Thứ Tư, ngày 16 tháng 10 năm 2019

Làm rõ nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Toàn cảnh phiên họp ngày 18/9 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (Ảnh: VGP News)

(Thanhuytphcm.vn) - Theo chương trình làm việc tại Phiên họp thứ 37, chiều 18/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021- 2025.

Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cho biết, nước ta có 53 dân tộc thiểu số với 3,04 triệu hộ, 13,38 triệu người, cư trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5.266 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 382 xã biên giới. Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước.

Đây là vùng trọng yếu về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; nơi có nhiều tài nguyên khoáng sản, có hệ sinh thái động, thực vật đa dạng; với trên 14 triệu ha rừng, là đầu nguồn sinh thủy, gắn với các công trình thủy điện quốc gia, vừa cung cấp điện, vừa cung cấp nước sản xuất, sinh hoạt cho vùng hạ du và khu vực đồng bằng.

“Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh, Đảng và Nhà nước ta đã xác định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn là vùng khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất”, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cho hay.

Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hướng đến mục tiêu đến năm 2025, thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng ít nhất 2,5 lần so với năm 2020; giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm từ 3% đến 5%; giảm 30% số xã đặc biệt khó khăn; 50% số thôn đặc biệt khó khăn so với năm 2020. Trên 80% lao động từ 18 tuổi trở lên có việc làm với thu nhập ổn định. Trên 90% đường ở thôn, bản được cứng hóa theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải. 100% xã có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đủ cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu dạy và học; đảm bảo có từ 10 - 12% số học sinh dân tộc thiểu số trong độ tuổi trung học được hưởng chính sách trường phổ thông dân tộc nội trú…

Đến năm 2030 không còn hộ đói; hộ nghèo giảm 80% so với năm 2020. 80% hộ gia đình có mức sống bằng với mức sống dân cư trong khu vực. Giảm ít nhất 70% số thôn đặc biệt khó khăn; 80% số xã đặc biệt khó khăn so với năm 2020. Trên 85% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, có cơ sở hạ tầng (đường, điện, trường học, trạm y tế, trụ sở làm việc…) đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của người dân. Giải quyết căn bản tình trạng di cư tự phát trong đồng bào dân tộc thiểu số…

Đề án xác định quan điểm, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư cho phát triển, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; đi liền với xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống so với vùng phát triển; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội; nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm đạt được mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hà Ngọc Chiến cho biết, đa số ý kiến tán thành với sự cần thiết xây dựng Đề án, cho rằng, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có vị trí, tầm quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái, cần phải có chính sách đủ mạnh để đầu tư cho vùng này nhằm thực hiện mục tiêu thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển và mức thu nhập…

Hiện có trên 100 chính sách dân tộc đang còn hiệu lực, do nhiều cơ quan chủ trì xây dựng, quản lý, tổ chức thực hiện nên nguồn lực bị phân tán, dàn trải, khó lồng ghép, khó phân định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành. Do vậy, cần xây dựng Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi mới, khắc phục những tồn tại, hạn chế của giai đoạn vừa qua, thúc đẩy phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Theo ông Hà Ngọc Chiến, từ việc thẩm tra kết quả 3 năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2018, Hội đồng Dân tộc đã đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về chính sách dân tộc như một Chương trình mục tiêu quốc gia mang tính tổng thể, toàn diện, lâu dài để phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn tới. Theo đó, tích hợp các nội dung chính sách, thu gọn đầu mối quản lý, quy định về cơ chế, nguồn lực bảo đảm thực hiện chính sách. Xây dựng Đề án với việc đề xuất một Chương trình mục tiêu quốc gia cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi là hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính sách và các nguồn lực đầu tư của nhà nước và xã hội.

Về kinh phí thực hiện, theo Đề án, tổng vốn thực hiện tối thiểu là: 335.421,367 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển: 290.959,364 tỷ đồng; vốn sự nghiệp: 9.462,003 tỷ đồng; vốn tín dụng chính sách: 35.000 tỷ đồng. Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị Chính phủ làm rõ cơ sở của việc tính toán, định mức làm căn cứ khái toán nguồn vốn; cho rằng các phụ biểu về nhu cầu kinh phí chưa bám sát các nội dung của Đề án, của Chương trình mục tiêu quốc gia. Các chính sách đặc thù vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã được tích hợp vào Chương trình mục tiêu quốc gia, nhưng Đề án vẫn dự kiến kinh phí riêng. Chính phủ cần có đánh giá, phân tích làm rõ với hệ thống chính sách dân tộc đã thực hiện qua các giai đoạn trước đây, nhất là giai đoạn 2011 - 2020 đã được bố trí nguồn lực ngân sách bao nhiêu; cơ cấu nguồn lực cho các chương trình, chính sách như thế nào. Từ đó làm rõ, với khái toán của Đề án này thì phần ngân sách tăng thêm bao nhiêu so với giai đoạn trước; cơ chế bảo đảm bố trí nguồn lực từ đâu và với phần kinh phí này dự kiến bảo đảm tỷ lệ đạt được của các chỉ tiêu đề ra là bao nhiêu.

Vân Thanh


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo