Thứ Tư, ngày 16 tháng 6 năm 2021

 

Nguyễn Văn Tố: Tấm gương nhà trí thức yêu nước nhiệt thành

Chân dung Cụ Nguyễn Văn Tố khắc gỗ in trên giấy nứa, Ty Bình dân học vụ Phú Thọ ấn hành để kỷ niệm Lễ chiến thắng giặc dốt, ngày 21/12/1949 (nguồn ảnh: Bảo tàng lịch sử quốc gia)

(Thanhuytphcm.vn)- Cụ Nguyễn Văn Tố hiệu là Ứng Hòe sinh ngày 05/6/1889, quê ở là Đông Thành, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội). Cụ Nguyên là Trưởng Ban Thường trực Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nguyên Bộ trưởng Cứu tế xã hội, Bộ trưởng Bộ không Bộ, một chí sĩ yêu nước nhiệt thành, nhà văn hóa xuất sắc, người cộng sự gần gũi, thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc.

Thuở nhỏ, cụ Nguyễn Văn Tố đã nổi tiếng thông minh, cụ sớm được gia đình cho theo học chữ Nho, sau chuyển sang học tiếng Pháp tại trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) của thực dân Pháp mở tại Hà Nội. Sau 3 năm học thông ngôn, ngày 8/6/1905, cụ đỗ bằng Thành chung (Trung học) với kết quả đứng đầu.

Sau khi tốt nghiệp, cụ Nguyễn Văn Tố được ông Alfred Foucher, Giám đốc Học viện Viễn Đông Bác cổ chọn vào làm với công việc của một phán sự tạm tuyển (thư ký tập sự). Viễn Đông Bác cổ là một trung tâm nghiên cứu khoa học, khảo cứu lịch sử, ngôn ngữ, khảo cổ học các nước Đông Dương và khu vực Viễn Đông Hà Nội.

Giấy thông hành của Ban ATK cử ông Nguyễn Quốc Thập tìm cách đón cụ Nguyễn Văn Tố về ATK gặp Bác Hồ, ngày 2/11/1947 (nguồn ảnh: Bảo tàng lịch sử quốc gia) Giấy thông hành của Ban ATK cử ông Nguyễn Quốc Thập tìm cách đón cụ Nguyễn Văn Tố về ATK gặp Bác Hồ, ngày 2/11/1947 (nguồn ảnh: Bảo tàng lịch sử quốc gia)

Cụ Nguyễn Văn Tố thuộc thế hệ những trí thức của buổi giao thời, khi nền học vấn nho học dần kết thúc và chuyển sang nền học vấn tây học. Làm việc trong một trung tâm khoa học nhân văn, tập hợp những học giả danh giá bậc nhất, mà số đông là người Pháp, cụ Nguyễn Văn Tố đã thể hiện xuất sắc bản lĩnh, trí tuệ và cốt cách của một trí thức Việt. Với sự thông minh, tinh thần ham học hỏi, mẫn cán và phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc, từ một nhân viên tập sự, cụ Nguyễn Văn Tố đã trở thành một viên chức cao cấp của Học viện vào năm 17 tuổi.

Nhớ về học giả Nguyễn Văn Tố trong thời kỳ làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ, cụ Nguyễn Thiệu Lâu kể lại trong cuốn Quốc sử tạp lục: “Cụ Nguyễn Văn Tố làm việc suốt ngày, trưa ở lại sở, tối mới về nhà ăn cơm. Phòng giấy của cụ ở ngay cầu thang đi lên, bé như cái chuồng chim. Trên một cái bàn thật to, ngổn ngang những sách chữ Hán, chữ Pháp, những bản thảo của cụ, những bản đánh máy, những bản ráp nhà in đưa cụ để sửa chữa… các công văn cụ cũng thảo lấy hết”.

Một buổi họp của Hội truyền bá học quốc ngữ (nguồn ảnh: Trung tâm lưu trữ quốc gia III) Một buổi họp của Hội truyền bá học quốc ngữ (nguồn ảnh: Trung tâm lưu trữ quốc gia III)

Trong thời gian làm việc ở Học viện Viễn Đông Bác cổ, cụ Nguyễn Văn Tố đã nghiên cứu văn hóa phương Tây, lịch sử văn hóa Việt Nam. Ngoài thời gian làm việc, ông còn viết bài in trên báo chí tiếng Việt nổi tiếng như Tạp chí Tri Tân, Tạp chí Đông Thanh, Báo Thanh Nghị… và các báo tiếng Pháp về nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, khảo cổ, nghệ thuật…

Năm 1934, cụ Nguyễn Văn Tố được bầu làm Hội trưởng Hội Trí Tri, một tổ chức hoạt động nhằm mục đích nâng cao dân trí. Trên tập san của Hội, đặc biệt trong khoảng từ năm 1932 đến năm 1936, ông đã viết rất nhiều bài nghiên cứu quan trọng bằng tiếng Pháp về lịch sử, khảo cổ, văn học như: Thời Tiền sử ở Bắc kỳ, Nguồn gốc chữ Quốc ngữ, Sử học và khảo cổ học Việt Nam, Bắc Kỳ trong thế kỷ XVII… Ông soạn thảo được hai bộ sử học đồ sộ là Đại Nam dật sử (1943) và Sử ta so với sử Tàu (1944). Những kết quả nghiên cứu của ông không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn góp phần khích lệ lòng yêu nước, thức tỉnh nó, dấy lên yêu cầu chấn hưng văn hóa dân tộc.

Những năm 1936 - 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương phổ biến chữ Quốc ngữ, xóa nạn mù chữ, từng bước nâng cao dân trí, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ mới. Khi đó, vấn đề mù chữ của dân tộc, cùng với yêu cầu thiết tha của nhân dân lao động thất học, các nhân sĩ trí thức cũng nhận thấy cần phải tiếp tục công cuộc truyền bá chữ Quốc ngữ, nên đã họp bàn để thành lập hội chống nạn mù chữ.

Ngày 27/9/1938, Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ được thành lập với mục tiêu dạy cho người bình dân lao động mù chữ biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ. Cụ Nguyễn Văn Tố được giới trí thức, quần chúng nhân dân tin tưởng đảm nhiệm vai trò Hội trưởng của Hội. Trong vai trò là Hội trưởng, cụ đã tổ chức các hoạt động nhằm xóa nạn mù chữ trong nhân dân, đặc biệt là những người dân nghèo, người lao động, người phục dịch…

Với bản lĩnh và sự nỗ lực của Hội trưởng Nguyễn Văn Tố, cùng các cộng sự đầy trách nhiệm, vượt qua muôn vàn khó khăn trở ngại do chính quyền thực dân gây ra, Hội Truyền bá Quốc ngữ đã phát triển và thành lập được 20 chi hội ở Bắc Kỳ, 11 chi hội ở Trung Kỳ, 8 chi hội ở Nam Kỳ; số giáo viên của Hội lên tới 5000 người. Hội đã phát triển thành một phong trào rộng lớn ở nhiều nơi trong cả nước, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chống nạn mù chữ, vì đã tổ chức được một phong trào học tập sôi nổi, rộng khắp trong Nhân dân. Hội đã khơi dậy được lòng yêu nước, tinh thần nhiệt huyết của quần chúng, sự tự hào dân tộc, làm nền tảng vững chắc giúp người dân giác ngộ cách mạng để từ đó vùng lên đấu tranh.

Năm 1945, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cụ Nguyễn Văn Tố được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời về làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ dân chủ cách mạng đầu tiên ở Việt Nam. Trên cương vị mới, cụ đã làm việc không mệt mỏi để tổ chức và động viên Nhân dân tích cực tham gia phong trào quyên góp gạo để cứu đói. Cụ đã đề ra các biện pháp nhằm đẩy lùi nạn đói, bằng uy tín của mình và những phương án thiết thực, đời sống nhân dân được phần nào cải thiện, sản xuất được phục hồi…

Tháng 9/1945, Hà Nội đã tổ chức thực hiện 3 cuộc vận động lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Trong đó, phong trào chống nạn mù chữ đã lôi cuốn toàn dân tham gia, với vai trò của cụ Nguyễn Văn Tố.

Sau cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của đất nước (tháng 01/1946), cụ được bầu làm đại biểu Quốc Hội.

Ngày 02/03/1946, cụ Nguyễn Văn Tố được bầu làm Trưởng ban Thường trực của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị này, cụ đã có những đóng góp quan trọng vào việc ký kết Hiệp định Sơ bộ 06/03/1946, tạm thời hòa hoãn với thực dân Pháp, giúp Đảng và chính phủ có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài. Cụ Nguyễn Văn Tố còn trực tiếp cùng Quốc hội xây dựng Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà nhiều điều đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thư viết tay của cụ Nguyễn Văn Tố gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 6/1/1947 về việc báo cáo các công tác đã làm trong chuyến đi tuyên truyền, vận động nhân dân tại Hoài Đức, Hà Đông (2-5/1/1947). Trang 2 bức thư có chữ ký của cụ và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh (nguồn ảnh: Trung tâm lưu trữ quốc gia III) Thư viết tay của cụ Nguyễn Văn Tố gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 6/1/1947 về việc báo cáo các công tác đã làm trong chuyến đi tuyên truyền, vận động nhân dân tại Hoài Đức, Hà Đông (2-5/1/1947). Trang 2 bức thư có chữ ký của cụ và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh (nguồn ảnh: Trung tâm lưu trữ quốc gia III)

Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ Nguyễn Văn Tố cùng các thành viên của Chính phủ rời Thủ đô Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc để tiếp tục lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trong một cuộc tấn công của quân Pháp lên Việt Bắc (07/10/1947), cụ Nguyễn Văn Tố bị địch bắt ở Bắc Kạn. Mặc dù địch dùng nhiều thủ đoạn mua chuộc, tra tấn dã man, cụ đã thể hiện khí phách hiên ngang của một trí thức yêu nước, bất khuất trước kẻ thù. Cụ đã anh dũng hy sinh trước mũi súng quân thù. Nói về cụ Nguyễn Văn Tố, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Cụ Tố hy sinh là một tổn thất lớn cho ta”.

Trân trọng những cống hiến cho dân tộc, cho đất nước của học giả yêu nước Nguyễn Văn Tố, được tin cụ hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lời điếu với sự đánh giá rất cao, với niềm thương tiếc vô bờ, trong đó có đoạn:

“Nhớ cụ xưa,

Văn chương thuần túy, học vấn cao sâu

Thái độ hiền từ, tính tình thanh khiết

Mở mang văn hóa, cụ dốc một lòng

Phú quý, công danh cụ nào có thiết

Đến ngày dân tộc giải phóng thành công

Thì cụ sẵn sàng ra tay giúp việc…

Quân địch ào ào tấn công

Trong vùng cụ đang làm việc.

Chúng tra tấn cụ cực kỳ tàn khố, dã man.

Cụ trả lời chúng bằng một nụ cười oanh liệt

Chúng làm hại cụ, lịch sử Pháp muôn đời thêm một vết xấu xa

Cụ dù hy sinh, tinh thần cụ ngàn thu sẽ vẻ vang bất diệt

Với cụ, dân tộc mất một người chí sĩ, thế giới mất một người dan nho

Cho nên Chính phủ khôn xiết buồn rầu, đồng bào khôn xiết nỗi lòng thương tiếc”

Cuộc đời của cụ Nguyễn Văn Tố là tấm gương cao đẹp của một nhà trí thức với lòng yêu nước nồng nàn đã đến với cách mạng, trọn đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp phát triển đất nước. Ghi nhớ công lao của cụ Nguyễn Văn Tố đối với đất nước, năm 2011, cụ được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng. Để tưởng nhớ và tri ân, tên cụ Nguyễn Văn Tố được đặt cho nhiều con đường, tên trường tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và nhiều tỉnh thành khác.

Phòng Lý luận chính trị - Lịch sử Đảng

Ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo