Thứ Hai, ngày 25 tháng 5 năm 2020

Nhân ái Hồ Chí Minh

Hồ Chủ tịch dự lễ khánh thành đê Mỹ Lộc (Nam Định) ngày 28.4.1946. Ảnh tư liệu

(Thanhuytphcm.vn) - Có một chi tiết sẽ đi mãi cùng lịch sử, đó là câu hỏi: “Tôi nói  đồng bào nghe rõ không?” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hàng chục vạn người trong ngày Lễ Độc lập 2-9-1945 trọng đại của đất nước, tổ chức tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Một biển người hô vang đáp lại: “Có”!

Loa phát thanh đã phát đi những điều cơ bản và hệ trọng để toàn dân tộc đi vào những cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.

1. Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng không ai có thể xâm phạm. Trong đó có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.

2. Vậy mà hơn 80 năm qua, thực dân Pháp đến cướp đất nước và đàn áp dân tộc Việt Nam. Hành động ấy trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

3. Nhân dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm, Pháp chạy, Nhật đầu hàng, Vua thoái vị để lập nên nước Việt Nam độc lập.

4. Việt Nam đã thành một nước Tự do và Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền Tự do và Độc lập ấy.

Cử chỉ và giọng nói ấm áp của Hồ Chủ tịch lần đầu tiên xuất hiện trước đồng bào đã vào lời ca của nhạc sỹ Văn Cao: “Người về đem tới ngày vui - Mùa Thu nắng cỏ Ba Đình. Với tiếng Người còn dịu dàng hơn tiếng đất trời…”.

Bao thế hệ người Việt Nam ghi nhớ lịch sử dân tộc đều nguyện sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - như đó là di sản quý báu. Trong đó, đạo đức của Người gắn với bao nhiêu câu chuyện cảm động.

Trước hết là chữ “dân” trong tâm Cụ Hồ

Nguyên nghĩa trong Hán tự - Đồng chí: cùng chí hướng. Đồng bào: cùng một bọc. Là người khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng từ “đồng chí”, Bác chỉ dùng những khi cần thiết, còn dùng từ “Đồng bào” thường nhật hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cầu nguyện cho chiến sĩ Nam bộ tại Nhà thờ lớn Hà Nội (1945). Ảnh tư liệu Chủ tịch Hồ Chí Minh cầu nguyện cho chiến sĩ Nam bộ tại Nhà thờ lớn Hà Nội (1945). Ảnh tư liệu

Trước ngày làm thượng khách của nước Pháp, cùng phái đoàn Nhà nước do trưởng đoàn Phạm Văn Đồng đi dự Hội nghị Fontainebleau có liên quan hệ trọng vận mệnh Việt Nam, Nam bộ vừa bước vào kháng chiến - bao người lo lắng - Bác có thư gửi đồng bào Nam bộ (thư được đăng trên Báo Cứu Quốc ra ngày 1-6-1946) có đoạn: “Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh, tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước. Đồng bào Nam bộ đã hy sinh tranh đấu mấy tháng trường để giữ gìn non sông cho toàn nước Việt Nam, cho nên đồng bào cả nước đều phải nhớ ơn đồng bào Nam bộ… Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Bác đã trân trọng biết ơn đồng bào, đưa danh dự cá nhân người con trung thành của dân tộc trong lời thề gan ruột trước lúc vận nước ngàn cân treo sợi tóc.

Phụ nữ Pháp tặng hoa khi Hồ Chủ tịch đến sân bay Le Bourget (Pháp) ngày 22.6.1946. Ảnh tư liệu Phụ nữ Pháp tặng hoa khi Hồ Chủ tịch đến sân bay Le Bourget (Pháp) ngày 22.6.1946. Ảnh tư liệu

Ngày 17-2-1947, những ngày đầu Kháng chiến chống Pháp - Bác viết thư cho đồng bào phải tản cư với lời căn dặn thiết thực: “Tôi và Chính phủ không giờ phút nào không lo lắng đến đồng bào. Bây giờ đang cực khổ thì ta vui chịu với nhau”.

Lúc đi công việc ở Thanh Hóa không có điều kiện gặp gỡ đồng bào dân tộc thiểu số ở đây, Bác có chuyển lời gửi “việc dìu dắt đồng bào thượng du, tôi xin trông cậy vào lòng ái quốc và sự hăng hái của các vị Lang đạo ở địa phương”.

Thật khó mà kể hết mối quan tâm của vị Chủ tịch nước dù trong chiến tranh gian khổ phải ở nơi núi rừng hay sau này về Thủ đô. Bác luôn quan tâm gắn bó với đồng bào của mình từ việc nhỏ như thư gửi, quà tặng, điếu văn cho người mất, các cuộc viếng thăm thương binh, gia đình liệt sỹ, kể cả những người có hoàn cảnh không may mắn, hoạn nạn hay lầm lạc… Đó luôn là tấm lòng trắc ẩn, gần gũi, nhân từ và độ lượng  hiếm có ở các nguyên thủ quốc gia trên thế giới.

Lòng nhân ái Hồ Chí Minh không phải triết luận trên cao mà đi liền với cuộc sống thiết thực. Lúc còn ở trên núi rừng Việt Bắc những năm 50 gian khổ, Bác đã có lần gửi cả hạt giống rau cải cho Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam gieo trồng để bữa ăn có thêm rau xanh. Bác còn dặn nếu phải di chuyển cơ quan chạy giặc thì đừng để một người (chị Lộc) ở lại coi kho. Chi tiết hơn, Bác còn nhắc cơ quan nên cử người giúp cô Hoàng Thị Ái - (lúc đó là Bí thư Đảng đoàn) - học thêm văn hóa, vì bà Ái viết thư cho Bác còn nhiều lỗi câu chữ quá.

Ngày 24-8-1947, Bác có gửi thư cho ông Nguyễn Khánh Toàn (bí danh của ông là Lĩnh: “Chú Lĩnh! Chú ốm đi ốm lại mãi, mình lo cho sức khỏe của chú. Phải gắng uống thuốc đi cho khỏi, hoặc nhờ thầy thuốc tiêm cho. Chớ để ốm mãi như vậy, chú đã yếu mà anh cũng lo”.

Khi cụ Hồ Tùng Mậu bị trúng đạn hy sinh ở Thanh Hóa năm 1951, Bác viết điếu văn có những lời tha thiết: “Chú Tùng Mậu ơi! Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chăng? Về tình nghĩa riêng, tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột thịt…”.

Chữ Dân trong tâm Cụ Hồ - dù lúc buồn hay vui - là tư tưởng Dân bản, lấy lợi ích và ham muốn của dân làm ham muốn của mình. Người từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”.

Chữ “nhân” trong tình đồng loại

Theo dạng tự, chữ Nhân (chữ nhân đứng + chữ nhị) theo quan niệm đạo đức xưa có nội hàm rộng, là sự tương thân tương ái giữa người với người. Theo Luận ngữ, người có nhân, mình muốn đứng vững thì cũng giúp người khác đứng vững. Mình muốn thành đạt thì cũng giúp cho người khác thành đạt. Nhân - còn bao quát nội dung cung kính, khoan dung, nói và làm đi đôi, có tính tự giác, tự thân, tự đáy lòng.

Hồ Chủ tịch với các đại biểu phụ nữ quốc tế dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam (1961) ở Hà Nội. Ảnh tư liệu Hồ Chủ tịch với các đại biểu phụ nữ quốc tế dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam (1961) ở Hà Nội. Ảnh tư liệu

Bôn ba hoạt động khắp năm châu bốn biển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với biết bao người, gặp bao nhiêu cảnh ngộ, lòng Nhân của Người luôn nguyên vẹn, lấy điều thiện làm đầu.

Nhà báo Nguyễn Ái Quốc - linh hồn của báo “Việt Nam hồn”, “Người cùng khổ”, là cộng sự của các báo “Nhân đạo”, “Dân chúng”, “Đời sống thợ thuyền”, những năm ở Paris - lĩnh vực báo chí đã đưa Bác tiếp cận với bao người lao khổ. Những truyện ngắn, vở kịch, bài viết, phóng sự điều tra về tội ác thực dân đối xử vô nhân đạo với những người nghèo khổ, nô lệ, thấp cổ bé họng, những kiểu hành hình người da đen… là những tác phẩm bắt nguồn từ lòng nhân và quá trình hoạt động yêu nước của Bác, đã được biết bao sự ủng hộ của bạn bè, đồng chí. Người đã nhận đỡ đầu các cháu bé, là bạn của nhiều nhân vật lớn như Tống Khánh Linh, Thủ tướng Ấn Độ, gia đình Gandi, Aubrac, luật sư Loseby và nhiều nhà văn nhà báo lớn.

Tình cảm, lòng nhân của Người còn gieo vào lòng những nhân vật lớn ở phe đối phương nghĩ tới lương tri và bổn phận. Jean Sainterny (1907-1978), thiếu tá tình báo Pháp và là người cùng Hồ Chủ tịch ký Hiệp định sơ bộ (ngày 6-3-1946) vốn là người cứng rắn, qua quá trình nhiều năm đối thoại, nhất là thời gian gần Bác 4 tháng ở Pháp - đã trở nên ôn hòa hơn, từ đối địch trở nên một người bạn chân thành. Sainterny  cũng là người đã viết 2 cuốn sách về Đông Dương, trong đó có cuốn “Đối diện với Hồ Chí Minh” phác họa rõ chân dung và nhân cách của Bác.

Đại tướng Salan (1899-1984) có thời gian tháp tùng Hồ Chủ tịch khi Người thăm Pháp - sau này kháng chiến, ông ta đã chỉ huy quân Pháp thực hiện chiến dịch đánh lên Việt Bắc năm 1947. Khi chiến dịch sắp mở màn, Bác đã viết cho ông ta lá thư, trong đó có đoạn viết: “Tôi hay tin ngài lại đến đất nước tôi. Năm ngoái chúng ta cùng du ngoạn nhiều nơi như những người bạn tốt… Vì tình yêu thương con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, đốt phá làng mạc…” (thư ngày 10-6-1947).

Sau chiến dịch Biên giới 1950, khi thăm các tù binh Pháp, Bác Hồ đã cởi chiếc áo khoác của mình khoác cho đại úy quân y Duyarit đang rét run. Sau này, Người cũng ra lệnh tha ngay nữ y tá trưởng G.Gallard - tù binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Khi vua Bảo Đại thành công dân Vĩnh Thụy sau khi nước nhà độc lập cũng cảmđộng về đối xử chân tình của Bác, nên cuối năm 1945 ông viết thư cho Thái hậu Từ Cung có câu như sau: “Cụ Hồ thương con lắm, Cụ coi con như con…”.

Những câu chuyện thấm tình người của Hồ Chủ tịch được bao người cảm nhận sâu sắc. Nhân ái Hồ Chí Minh - được nhà thơ Tố Hữu nói lên thay khi tiễn biệt Người: “Bác để tình thương cho chúng con…”.

Trần Đình Việt
(Nguyên Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà Xuất bản Tổng hợp TPHCM)

Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo