Thứ Hai, ngày 20 tháng 9 năm 2021

Báo cáo chính trị

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ KHÓA II

TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ QUẬN LẦN THỨ III

NHIỆM KỲ 2005 - 2010

Quận 12 sau 8 năm hình thành với quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, mạnh đang phấn đấu vươn lên bắt nhịp cùng sự phát triển chung của Thành phố. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đạt ở mức cao; Cơ cấu kinh tế từ “công nghiệp – nông nghiệp – thương mại dịch vụ” chuyển dịch sang “công nghiệp – thương mại dịch vụ - nông nghiệp” và đang định hình phát triển theo hướng “thương mại dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”. Bộ mặt đô thị từng bước được xây dựng, hạ tầng kinh tế - xã hội có nhiều tiến bộ. Đời sống vật chất và tinh thần nhân dân được nâng lên, nếp sống đô thị dần dần được hình thành trong cộng đồng dân cư. Quận đã tích cực giải quyết việc làm, xóa được hộ đói, giảm hộ nghèo, hoàn thành việc xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, nhà tình thương cho dân nghèo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Mạng lưới trường lớp và cơ sở y tế được mở rộng, đã cơ bản hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông. Hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố, đổi mới và ngày càng nâng chất. Năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền có nhiều tiến bộ, vai trò mặt trận và các đoàn thể chính trị được chú trọng, góp phần phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân. Đa số cán bộ đảng viên gương mẫu, nỗ lực vì sự nghiệp chung của quận.

Trong thành quả chung đó, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, các Nghị quyết của Trung ương khóa IX, Nghị quyết Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII và Nghị quyết của Quận Đảng bộ lần II có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội Đảng bộ quận lần III là đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ quận lần II; quyết định phương hướng nhiệm vụ xây dựng, phát triển quận, xây dựng hệ thống chính trị, đề ra giải pháp nhằm đưa quận 12 phát triển thành quận đô thị, văn minh.

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ QUẬN LẦN THỨ II

NHIỆM KỲ 2001 – 2005

­­­­­­­­­­­---------------

1/ Kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao:

Cơ cấu kinh tế trên địa bàn chuyển dịch theo hướng tích cực, đúng quy hoạch. Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giữ tỷ trọng ổn định (năm 2001 giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 40,23% và tăng lên 41,43% vào năm 2005); ngành thương mại- dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao (năm 2001 tổng doanh số chiếm 55,20% tăng lên 56,36% vào năm 2005); tỷ trọng ngành sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm (năm 2001 giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 4,57% đến năm 2005 còn 2,20%).

Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều vượt kế hoạch. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và doanh thu dịch vụ từ 1.414,735 tỷ đồng (năm 2001) đã tăng lên 2.789,410 tỷ đồng đạt 197,17 % (năm 2005), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 18,51%. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 19,36% (Nghị quyết Đại hội II là 12-14%) tập trung các ngành chủ lực như: dệt, may, các sản phẩm từ kim loại... Các doanh nghiệp đã chủ động trong đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, với tổng vốn đầu tư là 1.019,87 tỷ đồng đạt 203,9% so với nhiệm kỳ trước. Số lượng và chất lượng sản phẩm được nâng lên, có uy tín trên thị trường. Về thương mại – dịch vụ, doanh số năm 2001 đạt 780,989 tỷ đồng đến năm 2005 ước đạt 1.572,243 tỷ đồng đạt tỉ lệ 201,31%, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 19,12% (Nghị quyết Đại hội II là 12 – 14%). Trong đó thương mại - dịch vụ ngoài quốc doanh chiếm 99,3%. Một số chợ được xây dựng mới đưa vào hoạt động phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Kinh tế tập thể được tổ chức lại theo luật Hợp tác xã, nhiều Hợp tác xã dịch vụ vận tải được hình thành và có hướng phát triển khá tốt. Sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tốc độ bình quân là - 0,11%/năm. Nhiều mô hình sản xuất mới đáp ứng nhu cầu thị trường; nông sản phẩm hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao được thể nghiệm và đang từng bước được mở rộng như ba ba, cá sấu, hoa, cá kiểng... Hình thức sản xuất hợp tác được chú ý phát triển, đã hình thành làng nghề nuôi cá sấu và đang nghiên cứu để hình thành các làng nghề hoa, cá kiểng...

Thu ngân sách hàng năm đều vượt chỉ tiêu kế hoạch và tốc độ tăng cao. Năm 2005 ước thu 184,420 tỷ đồng so với thực hiện năm 2001: 67,167 tỷ đồng đạt 274,57%. Đảm bảo cân đối thu chi hàng năm, tăng cường chi đầu tư, đáp ứng chi thường xuyên với tinh thần tiết kiệm.

2/ Công tác Quản lý đô thị có một số chuyển biến:

Qui hoạch 1/2000 đã phủ kín 9 phường và 1 phần phường Thạnh Xuân; các quy hoạch về mạng lưới trường lớp, thể dục thể thao, mạng lưới chợ siêu thị đến năm 2010 đã được phê duyệt; kế hoạch sử dụng đất được lập hàng năm góp phần tích cực vào việc thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất cơ bản hoàn thành cho số hồ sơ có đủ điều kiện (đã cấp 44.342 GCN). Quan tâm lãnh đạo chấn chỉnh, khắc phục tình trạng xây dựng không phép, sai phép, đặc biệt là tình trạng lấn chiếm sông kênh rạch, hành lang công trình kỹ thuật.

Vốn đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước đạt 316,391 tỷ đồng (tính đến tháng 6 năm 2005), tăng 2,88 lần so với nhiệm kỳ trước, nhưng chỉ đạt 58,52% kế hoạch, chủ yếu đầu tư nâng cấp đường giao thông, trường học, các trạm, trung tâm y tế. Quận có nỗ lực nhất định trong huy động nguồn lực xã hội cho phát triển cơ sở vật chất trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội hoá đường giao thông nội bộ theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Có 1306 hộ đã hiến 30.106 m2, trị giá đất và vật kiến trúc, hoa màu dân đóng góp trên 43,020 tỷ đồng và nhân dân còn ủng hộ kinh phí bằng tiền 9,965 tỷ đồng, đã góp phần cải thiện cuộc sống nhân dân trong quá trình đô thị hoá. Từng bước giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Số hộ sử dụng nước do các công ty xử lý thông qua hệ thống lọc đạt tỷ lệ 5,37%, số hộ tự khoan giếng để sử dụng : 50.360/53.220 hộ dân. Toàn quận hiện có khoảng 30.000 thuê bao điện thoại cố định- bình quân đạt 10 hộ/máy.

3/ Các hoạt động văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ:

Công tác giáo dục – đào tạo có nhiều khởi sắc: đã hoàn thành quy hoạch mạng lưới trường lớp đến năm 2010. Xây dựng mới 189 phòng học, nâng cấp sửa chữa 66 phòng học. Học vấn bình quân đạt mức lớp 7,5; cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông ở 9/10 phường. Giáo dục thường xuyên được mở rộng. Các Trung tâm học tập cộng đồng, Hội Khuyến học cũng đã góp phần quan trọng vào việc xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập. Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp theo độ tuổi đạt 100%, học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày đạt 51% (tính đến đầu năm học 2005 – 2006, so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ II là 40%). Công tác dạy nghề được đẩy mạnh từ việc nâng cấp, xây mới cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động, quan tâm tạo điều kiện phát triển các cơ sở dạy nghề tư nhân.

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” triển khai rộng khắp, được đông đảo quần chúng tham gia. Đã có 29/48 khu phố (chiếm tỷ lệ 60,42% so 30% chỉ tiêu NQ), 45.381/46.173 hộ gia đình được công nhận đạt chuẩn văn hóa (chiếm tỷ lệ 98% so 65% chỉ tiêu NQ). Các thiết chế văn hóa tại các khu phố từng bước được hình thành, phát triển, đã xây dựng và đưa vào hoạt động nhà thiếu nhi quận, 03 Nhà văn hóa - thể thao phường. Hoạt động văn hóa – văn nghệ quần chúng phát triển mạnh; tổ chức nhiều chương trình, hội diễn văn nghệ quần chúng và mở rộng các câu lạc bộ ca hát ở các phường. Hoạt động thể dục thể thao có bước phát triển, các vận động viên võ Thái cực đạo đạt nhiều giải thưởng cao của thành phố, Quốc gia và khu vực.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ: đã hoàn thành và đưa Trung tâm y tế quận với quy mô 100 giường vào hoạt động, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố. Các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu đạt kết quả cao; hàng năm tổ chức khám chữa bệnh cho nhân dân vượt chỉ tiêu trên 20%; thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt trên 98% và hoàn thành chỉ tiêu các chương trình quốc gia với chất lượng cao. Thực hiện tốt pháp lệnh dân số và vận động kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hằng năm thấp hơn chỉ tiêu (chiếm tỷ lệ 1,02% so với 1,2% theo Nghị quyết Nhiệm kỳ II).

Công tác chăm lo người nghèo được toàn xã hội tham gia, đạt kết quả thiết thực: đến cuối năm 2003 quận đã cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chí cũ và từ đầu năm 2004 đến nay đã cơ bản xóa hộ nghèo có thu nhập bình quân dưới 4 triệu đồng/người/năm. Nguồn vốn huy động đạt trên 6,8 tỷ đồng (vượt so năm 2001: 5,3 tỷ đồng); mức vốn bình quân trợ giúp cho mỗi hộ nghèo nâng lên 4,128 triệu đồng (tăng so với trước 1,469 triệu đồng).

Các chính sách xã hội được đẩy mạnh, nhất là trong thực hiện chính sách đối với người có công, các Mẹ Việt anh hùng... Quận đã cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, ngói hóa và tole hóa nhà mái lá; vượt chỉ tiêu giải quyết việc làm, giảm thiểu về tranh chấp lao động và tích cực bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động; thực hiện tốt về an toàn, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ, không để xảy ra vụ việc nghiêm trọng. Công tác bảo trợ xã hội được chú trọng, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nhiễm chất độc da cam, người già neo đơn, người khuyết tật và đối tượng lang thang xin ăn.

4/ Nhiệm vụ quốc phòng an ninh và hoạt động tư pháp có nhiều tiến bộ:

Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc có chuyển động tích cực. Chương trình “3 giảm” đạt kết quả khả quan, đã xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyển hoá toàn diện địa bàn, xoá bỏ hầu hết các tụ điểm phức tạp về hình sự, ma túy, mại dâm. Cuối năm 2003 toàn địa bàn quận giải quyết cơ bản tệ nạn ma túy. Song song đó, tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước đối với các ngành nghề kinh doanh nhạy cảm, công tác phòng cháy chữa cháy, giữ gìn trật tự an toàn giao thông.

Việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng được củng cố. Nhiệm vụ quân sự địa phương hoàn thành khá tốt, công tác xây dựng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, tuyển - giao quân hàng năm đạt được chỉ tiêu với chất lượng ngày càng cao. Thường xuyên điều chỉnh bổ sung kế hoạch phòng thủ, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu sát với tình hình phát triển của địa phương, tổ chức diễn tập kiểm tra phương án phòng thủ và phòng chống biểu tình bạo loạn được đánh giá hoàn thành tốt yêu cầu đề ra.

Cải cách tư pháp bước đầu đạt một số tiến bộ trong hoạt động tố tụng, trong củng cố tổ chức bộ máy và nhân sự để đáp ứng theo yêu cầu trong tình hình mới. Các đơn vị trong hệ thống tư pháp có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong hoạt động. Công tác điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đúng pháp luật, không để oan sai, lọt tội...

5/ Hệ thống chính trị thường xuyên được củng cố, kiện toàn:

1. Công tác xây dựng Đảng được thực hiện khá toàn diện:

Công tác chính trị tư tưởng: Tổ chức nghiên cứu, quán triệt đầy đủ, kịp thời các Nghị quyết của Đảng đến đảng viên, cán bộ công chức và quần chúng nhân dân bằng nhiều hình thức, gắn chặt với tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương. Công tác giáo dục truyền thống và giáo dục nâng cao nhận thức lý luận chính trị về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong cán bộ đảng viên được tổ chức thường xuyên bằng các hình thức đa dạng như hội thảo, mạn đàm, tuyên truyền, viết bài dự thi, hội thi báo cáo viên, tuyên truyền viên tìm hiểu về Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh. Định kỳ thông tin tình hình thời sự kết hợp báo cáo chuyên đề, nắm tình hình dư luận, diễn biến tư tưởng, tâm trạng cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân để có định hướng, chỉ đạo giải quyết ổn định chính trị - xã hội. Kết quả đã góp phần đảm bảo thống nhất về tư tưởng và hành động trong thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ, tích cực góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị địa phương.

Công tác tổ chức cán bộ: đã tập trung chỉ đạo công tác củng cố, kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là chi bộ các phòng ban và ở phường; quan tâm chỉ đạo thành lập chi bộ doanh nghiệp tư nhân. Trong đó các chi bộ khu phố đã quan tâm giải quyết những vấn đề liên quan thiết thực đến quyền lợi của dân, chú trọng đến công tác tạo nguồn phát triển Đảng. Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên có tiến bộ, 75% chi bộ, Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, trên 90% đảng viên đủ tư cách, đảng viên phấn đấu tốt được biểu dương tăng dần. Công tác phát triển đảng viên có chuyển biến, vượt chỉ tiêu Nghị quyết (162,8%), tập trung ở địa bàn dân cư, trường học, tuổi đời bình quân trẻ hơn, chất lượng đảng viên mới kết nạp ngày càng được nâng lên

Hàng năm đều có rà soát, đánh giá cán bộ diện quy hoạch để điều chỉnh, bổ sung phù hợp, chú trọng nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao. Công tác đào tạo, bồi dưỡng luân chuyển, bố trí theo yêu cầu nhiệm vụ và năng lực cán bộ, trong đó chú ý đề bạt cán bộ trẻ để rèn luyện, thử thách trong thực tiễn.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 6 (2), Quận ủy đã tổ chức thành lập các đoàn kiểm tra, xuống cơ sở tìm hiểu thực tế để có kết luận chính xác, giúp cấp ủy xử lý, giải quyết kịp thời một số trường hợp quan trọng, nổi cộm. Công tác Bảo vệ chính trị nội bộ đã tập trung sưu tra lý lịch cán bộ đảng viên phục vụ công tác phát triển Đảng, công tác nhân sự, bố trí, đề bạt cán bộ.

Công tác kiểm tra của Đảng: Các cấp ủy đã có chuyển biến trong nhận thức về công tác kiểm tra, chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng các cấp; chú trọng hơn đến công tác phòng ngừa ngăn sai phạm của tổ chức Đảng, đảng viên và cán bộ, đặc biệt là đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm và có đơn thư khiếu nại tố cáo; qua đó xem xét xử lý kỷ luật những tổ chức và đảng viên có sai phạm. Nội dung sai phạm chủ yếu do chưa chấp hành Nghị quyết Đảng, thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái quy định của Nhà nước, vi phạm đạo đức lối sống, lợi dụng chức quyền, làm thất thoát tài sản Nhà nước, tham ô, nhũng nhiễu, lãng phí.

2. Năng lực hoạt động của chính quyền và hiệu lực quản lý Nhà nước được nâng lên:

Hệ thống chính quyền có nhiều nổ lực trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và theo phân cấp của thành phố. Hoạt động giám sát, chất lượng nội dung các kỳ họp của Hội đồng nhân dân có tiến bộ, phát huy được vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong phối hợp giải quyết những vấn đề bức xúc của dân.

Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan được kiện toàn, cải tiến, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được nâng lên. Tổ chức lại một số phòng ban cấp quận; sắp xếp, củng cố tổ chức bộ máy phường theo Nghị định 114 của Chính phủ; thực hiện tốt việc phân cấp, cải cách quy trình giải quyết hồ sơ hành chính lĩnh vực nhà đất, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kết quả chung là xây dựng được bộ máy tương đối gọn, nhẹ, phân công phân cấp hợp lý, chú trọng vai trò tập thể và trách nhiệm cá nhân, hoạt động hiệu quả hơn.

3. Công tác vận động quần chúng luôn được chú trọng, các tổ chức quần chúng thường xuyên củng cố, đổi mới về tổ chức và hoạt động:

Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng phát huy vai trò trung tâm vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân thông qua các hoạt động chăm lo đời sống, thực hiện dân chủ cơ sở, góp phần xây dựng mối quan hệ giữa Đảng – chính quyền với nhân dân; giữa đồng bào các dân tộc, đồng bào là tín đồ các tôn giáo với đồng bào không tôn giáo ngày càng mật thiết hơn; thực hiện tốt “tình làng nghĩa xóm”, xây dựng đời sống văn hóa, ngày hội đoàn kết toàn dân tộc ở khu phố.

Đội ngũ công nhân viên chức quận có tăng về số lượng, trình độ học vấn, tay nghề, nhận thức chính trị, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển; thu nhập ổn định. Nhiều công nhân viên chức ưu tú, tiên tiến được kết nạp vào Đảng, nhiều tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa người lao động với người sử dụng lao động.

Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh niên đã tổ chức nhiều phong trào sôi nổi có tác dụng trong tập hợp giáo dục thanh thiếu nhi, phát huy lòng nhiệt tình, tính xung kích của thanh niên như: phong trào thanh niên tình nguyện, giữ gìn trật tự an toàn giao thông, khơi thông dòng chảy chống ngập úng, xóa mù tin học,... qua đó đã giới thiệu được nhiều đoàn viên ưu tú sang Đảng xem xét kết nạp.

Các đoàn thể: Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Người cao tuổi, Khuyến học, Chữ thập đỏ được củng cố đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động với chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo được ảnh hưởng tốt trong hội viên và có sức lan tỏa ngoài xã hội. Từng tổ chức đoàn thể phát huy được sự đóng góp của hội viên vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, chương trình mục tiêu 3 giảm, xóa đói giảm nghèo, phong trào làm đường, mở hẻm, vận động học bổng khuyến học, chăm lo giáo dục thế hệ trẻ, công tác xã hội nhân đạo.

Các nhà doanh nghiệp đã có nhiều đóng góp và giữ vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, tham gia phong trào xã hội hóa đường giao thông, công tác xã hội...

Bên cạnh những thành quả đạt được, còn một số hạn chế, thiếu sót

1/ Kinh tế tăng trưởng nhưng chưa đều, có mặt thiếu vững chắc:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đáp ứng theo hướng ưu tiên phát triển thương mại dịch vụ; các loại hình dịch vụ chủ yếu là phục vụ đời sống sinh hoạt thông thường. Thiếu biện pháp kêu gọi đầu tư, tạo điều kiện để thúc đẩy hình thành các khu thương mại tập trung và các siêu thị trên địa bàn theo quy hoạch. Việc xây dựng và đưa các chợ vào hoạt động còn nhiều chậm trễ, thiếu sót. Tiềm năng du lịch sinh thái ven sông Sài Gòn chưa được khai thác. Đầu ra các sản phẩm nông nghiệp thiếu ổn định.

2/ Công tác Quản lý đô thị còn yếu kém:

Chất lượng quy hoạch ở một số nơi còn mang tính chủ quan, không sát với thực tế, thiếu đồng bộ gây cản trở phát triển. Công khai quy hoạch, quản lý quy hoạch còn nhiều thiếu sót, mức độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật chậm. Khả năng sử dụng vốn cho đầu tư các dự án còn hạn chế. Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng còn nhiều sai phạm, chưa chủ động giải quyết quỹ nhà đất tái định cư cho các hộ dân bị giải tỏa trắng, có trường hợp chậm trễ gần 3 năm. Một bộ phận cán bộ đảng viên chưa được quán triệt nhận thức đầy đủ các chủ trương về phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn. Tình trạng ô nhiễm môi trường sống còn nặng nề, chưa được cải thiện. Vi phạm trật tự đô thị, trật tự xây dựng còn nhiều; ngăn chặn, xử lý chưa nghiêm, chưa triệt để.

3/ Hoạt động văn hóa – xã hội có mặt chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống:

Việc đầu tư cơ sở vật chất ở các cấp học thiếu đồng bộ; việc xây dựng mới trường, lớp chỉ đạt 47,14% theo quy hoạch, chưa đáp ứng đủ nhu cầu học 2 buổi/ngày cho học sinh tiểu học và trung học. Sĩ số học sinh/lớp còn cao hơn quy định. Giáo dục mầm non ngoài công lập còn nhiều bất cập về cơ chế, quản lý không chặt chẽ.

Chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” chưa cao; hoạt động một số Ban chủ nhiệm khu phố văn hóa và phường văn hóa còn yếu, có biểu hiện chủ quan, thỏa mãn. Tệ nạn xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp, chưa được xử lý triệt để.

Trang thiết bị cho Trung tâm y tế chậm được đầu tư, công tác phục vụ khám chữa bệnh có hiệu suất thấp.Tỷ lệ sinh con thứ 3 còn cao (thấp nhất là 5,66%/2002, cao nhất là 7,3%/2004). Công tác giảm nghèo và giải quyết việc làm còn khó khăn, sự rủi ro, thất bại trong làm ăn vượt nghèo còn cao, số lao động phổ thông có chiều hướng tăng nhanh. Công tác đào tạo nghề còn khoảng cách khá lớn với nhu cầu lao động của xã hội. Quỹ quốc gia - hỗ trợ việc làm phát vốn vay chậm, còn nhiều dự án chưa được duyệt vốn.

4/ Công tác quốc phòng an ninh, hoạt động tư pháp:

Chưa kịp thời giải quyết khiếu kiện đông người và đình, lãn công trong công nhân. Tình hình phạm pháp hình sự được kéo giảm chưa cơ bản do tội phạm hoạt động lưu động và công tác quản lý nhân hộ khẩu, quản lý đối tượng chưa chặt chẽ. Số người chết do tai nạn giao thông còn cao. Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật chưa sâu rộng. Xét xử, thi hành án dân sự còn chậm. Lực lượng làm công tác tư pháp còn thiếu, phương tiện trang bị chưa đầy đủ.

5/ Xây dựng hệ thống chính trị:

Trong công tác xây dựng Đảng:

Năng lực, trình độ một bộ phận cán bộ làm công tác tư tưởng còn hạn chế nên có những chủ trương, nội dung tuyên truyền chưa chuyển tải kịp thời, sâu rộng trong nhân dân; tỷ lệ đảng viên học tập, quán triệt một số Nghị quyết chưa cao, việc nắm bắt và phản ánh tình hình, diễn biến tâm trạng, dư luận của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân còn chậm; nội dung thông tin về kinh tế - xã hội của địa phương còn ít… nên hiệu quả của công tác tư tưởng có mặt còn hạn chế.

Việc xây dựng cơ sở Đảng và đoàn thể ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn gặp nhiều khó khăn. Hoạt động của một số cấp ủy và chi bộ cơ sở chưa tương xứng với chức năng nhiệm vụ được giao. Phương thức và chất lượng lãnh đạo ở một số chi bộ cơ quan còn hạn chế. Việc đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên và cán bộ còn nhiều trường hợp chưa đúng thực chất, một số nơi có biểu hiện chạy theo thành tích. Số lượng phát triển Đảng trong công nhân còn ít. Công tác quy hoạch cán bộ, luân chuyển cán bộ có lúc còn chắp vá, một số cán bộ thiếu phấn đấu, sức ỳ cao làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ. Chưa xây dựng được kế hoạch, lộ trình dài hạn cho sự phấn đấu của từng cán bộ dự bị. Chưa tạo được bước đột phá trong công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ trẻ. Ý thức rèn luyện, tính chấp hành kỷ cương, kỷ luật ở một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế; có biểu hiện sa sút về đạo đức, lối sống; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp.

Kiểm tra đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng có dấu hiệu vi phạm phần nhiều còn bị động (có thư tố cáo mới tiến hành kiểm tra). Công tác tham mưu cấp ủy về việc kiểm tra thực hiện Nghị quyết và thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa nhiều, chưa thường xuyên.

Trong xây dựng chính quyền:

Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp và đại biểu Hội đồng nhân dân chưa đồng đều, vai trò của một số đại biểu còn mờ nhạt, chất lượng giám sát chưa cao.

Quản lý Nhà nước ở một số lĩnh vực như: xây dựng cơ bản, thẩm định đền bù giải phóng mặt bằng chưa chặt chẽ. Công tác cải cách hành chính, nhất là khâu cải tiến về quy trình thủ tục còn chậm. Công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động công vụ của cán bộ - công chức chưa được chú trọng. Hoạt động của bộ máy hành chính trên một số lĩnh vực không theo kịp nhịp độ phát triển xã hội, chưa đáp ứng sự mong muốn chính đáng của nhân dân. Kỷ cương, kỷ luật, tính chấp hành của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân hạn chế; còn có tình trạng trên nói dưới không chấp hành hoặc thực hiện chiếu lệ. Hiện tượng nhũng nhiễu, tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức vẫn còn xảy ra gây ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân. Những nội dung của qui chế dân chủ cơ sở chưa được thực hiện thường xuyên.

Trong công tác vận động quần chúng :

Các đoàn thể còn gặp nhiều khó khăn trong thực hiện vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên, trong thực hiện các chủ trương chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của người dân; các loại hình tập hợp, giáo dục quần chúng chưa đa dạng, tỉ lệ quần chúng được tập hợp còn ít; chất lượng hội viên, đoàn viên không đồng đều. Mặt khác, việc bố trí, sắp xếp cán bộ làm công tác đoàn thể chưa được xem trọng, chưa được tạo điều kiện về cơ sở vật chất; mối quan hệ giữa đoàn thể với chính quyền và các cơ quan chức năng chưa tốt; chất lượng hoạt động của lực lượng nòng cốt chưa cao.

Nhìn chung 5 năm qua, hầu hết các nhiệm vụ chỉ tiêu do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ II đề ra đều đạt và vượt khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đã khẳng định Nghị quyết đề ra và các biện pháp tổ chức thực hiện là đúng đắn. Thành quả đó thể hiện sự đoàn kết thống nhất của nội bộ Đảng và cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận, sáng tạo của nhân dân và sự kiên trì, nỗ lực quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân trong tiến trình xây dựng, phát triển quận. Bên cạnh những thành công ấy cũng còn phát sinh nhiều hạn chế, yếu kém mà về nguyên nhân một phần do cơ chế chưa hợp lý, tổ chức bộ máy thiếu ổn định, nhưng chủ yếu là do năng lực và ý thức trách nhiệm của cán bộ công chức, tính chấp hành và xử lý công việc chưa nghiêm, chưa đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị.

Những kinh nghiệm do Đại hội lần II chỉ ra đã được vận dụng, khẳng định và bổ sung 5 năm qua, nổi lên một số kinh nghiệm đồng thời cũng là nguyên nhân của cả thành công lẫn những hạn chế, khuyết điểm như sau:

Một là: Sự đoàn kết thống nhất trong Ban Chấp hành, Ban Thường vụ sẽ là cơ sở của sự đoàn kết của toàn Đảng bộ, toàn bộ hệ thống chính trị, trở thành sức mạnh lãnh đạo hệ thống chính trị cùng thực hiện các nhiệm vụ, cũng như trong lựa chọn những giải pháp mang tính đột phá, giải quyết được các vấn đề bức xúc đặt ra trong cuộc sống của dân, làm chuyển biến nhanh bộ mặt của quận.

Hai là: Thực hiện qui chế dân chủ cơ sở, dân chủ hoá các mặt đời sống kinh tế - xã hội, khơi dậy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và tiềm năng trong nhân dân; đồng thời chú ý lập lại trật tự kỷ cương cả trong xã hội và toàn bộ hệ thống chính trị. Thực tế cho thấy, nơi nào không phát huy dân chủ sẽ không động viên được tính tích cực, đồng tình của quần chúng; không có kỷ cương sẽ không đạt được yêu cầu nhiệm vụ.

Ba là: Trong công tác xây dựng Đảng, đặc biệt quan tâm công tác cán bộ. Phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt để động viên, hướng dẫn, kêu gọi sự đồng tình hưởng ứng của cán bộ công chức và quần chúng nhân dân. Cần chú trọng công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động; luân chuyển, bố trí cán bộ theo quy hoạch, tạo điều kiện cho cán bộ phát huy được năng lực công tác. Mạnh dạn đề bạt cán bộ trẻ vào một số vị trí chủ chốt ở cơ sở để rèn luyện, thử thách.

Bốn là: Trong lãnh đạo điều hành phải phân công trách nhiệm rõ ràng, tăng cường kiểm tra cụ thể từ cơ sở để kịp thời đôn đốc, uốn nắn quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết, kịp thời tổng kết, rút kinh nghiệm chỉ đạo. Khắc phục tình trạng trì trệ trong các khâu tổ chức thực hiện. Việc chậm tổng kết, rút kinh nghiệm đã để lại những hạn chế, thậm chí cả những mất mát về cán bộ.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ

XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN QUẬN NHIỆM KỲ 2005 – 2010

-----------------

I- PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU CHUNG :

Chặng đường 5 năm (2005-2010) là giai đoạn tăng tốc để xây dựng quận trở thành quận đô thị, cơ bản hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, góp phần cùng thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010.

Những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực trong tám năm qua, vị trí địa lý thuận lợi, mật độ dân cư thấp, đất dự trữ cho phát triển còn cao, sự quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện của thành phố sẽ là những thuận lợi hết sức quan trọng; nhưng bên cạnh đó, quận cũng còn nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng yếu kém, dân số tăng nhanh, năng lực đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều hạn chế.

Trên cơ sở những thuận lợi, khó khăn và yêu cầu phát triển, xác định muïc tieâu tổng quát 5 năm tới là:

Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế trên cơ sở khai thác tốt nhất lợi thế của quận, thu hút đầu tư từ bên ngoài, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: “Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp”; hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết trên địa bàn, đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, xây dựng nếp sống đô thị trong cộng đồng; bảo đảm an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, từng bước xây dựng địa phương thành quận đô thị, văn minh. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu quả quản lý của chính quyền; phát huy vai trò, vị trí của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quần chúng.

1/ Tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh và tạo mọi điều kiện để phát triển kinh tế:

Xác định cơ cấu kinh tế là Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp”, tập trung phát triển các ngành dịch vụ. Đảm bảo tỷ trọng phát triển dịch vụ 57%; công nghiệp 40%; nông nghiệp 03%. Phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội, tạo nhiều công ăn việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân.

Tốc độ tăng trưởng dịch vụ từ 20% trở lên, tập trung hình thức công ty, văn phòng giao dịch Thương mại dịch vụ. Phát triển nhanh hệ thống chợ, trung tâm thương mại, siêu thị (xây dựng 2 siêu thị bậc trung) để hình thành hệ thống thương nghiệp văn minh, hiện đại. Phát triển đồng bộ các loại dịch vụ bưu chính, tài chính tín dụng, kho bãi, du lịch sinh thái, dịch vụ việc làm, y tế, giáo dục, thể dục thể thao và các loại hình phục vụ sản xuất kinh doanh.

Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp là 14 – 16%, chú ý phát triển có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sản xuất các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao. Phát huy thế mạnh các ngành dệt, may, da, các sản phẩm từ kim loại… bằng việc đầu tư mới thiết bị, công nghệ để đủ sức cạnh tranh các sản phẩm cùng loại nhằm phát huy lợi thế so sánh trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp, đẩy nhanh tiến độ thực hiện bờ bao kết hợp đường giao thông, đảm bảo môi trường sinh thái, gắn với loại hình dịch vụ nhà vườn; thực hiện quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp (cây, con, giống có giá trị và hiệu quả kinh tế cao); gắn với quy hoạch thực tế và yêu cầu nâng cao thu nhập cải thiện đời sống nông dân tốt nhất trên một diện tích đất nông nghiệp .

2/ Làm tốt công tác Quản lý đô thị tạo tiền đề cơ bản cho phát triển đô thị bền vững:

- Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch vẫn được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Tiếp tục phủ kín quy hoạch tổng thể và điều chỉnh những nơi không còn phù hợp, hoàn chỉnh các quy hoạch chuyên ngành. Sớm thực hiện quy hoạch cấp thoát nước và quy hoạch chi tiết (1/500 và 1/2000) khu trung tâm hành chính quận và 10 khu trung tâm ở các phường đô thị hóa nhanh như Tân Thới Nhất, Đông Hưng Thuận, Trung Mỹ Tây, Hiệp Thành, Thạnh Lộc, Thới An và Tân Thới Hiệp. Trong đó nghiên cứu quy hoạch xây dựng ít nhất 01 tuyến đường có cảnh quan kiến trúc đô thị đặc trưng của quận. Thực hiện quy hoạch gắn với phát triển kinh tế - xã hội; có công khai quy hoạch và quản lý quy hoạch, chấm dứt việc xây dựng tự phát; khuyến khích và tạo điều kiện cho việc xây dựng chung cư cao tầng, khu dân cư mới có hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh để nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.

Mọi trường hợp vi phạm trật tự xây dựng phải được ngăn chặn kịp thời, xử lý theo qui định. Giải quyết dứt điểm 20 khu vực có chợ tự phát, lấn chiếm lòng lề đường nhằm tạo thông thoáng các trục lộ giao thông chính, không để phát sinh các điểm mới.

Tiếp tục thực hiện các công trình trọng điểm nhiệm kỳ II đã xác định. Đảm bảo sử dụng đạt 100% vốn kế hoạch hàng năm cho công tác xây dựng cơ bản, đặc biệt là các công trình giao thông, cấp thoát nước, trường học, khu thương mại dịch vụ theo quy hoạch nhằm cải thiện dân sinh và phát triển kinh tế. Về thoát nước: phải hoàn thành 2 dự án rạch Cầu Suối và kênh Đồng Tiến cùng với 04 tiểu lưu vực ở khu ngã Tư Ga, ngã ba Bầu, vùng trũng ở phường Trung Mỹ Tây. Về cấp nước, phấn đấu có 70- 80% số hộ dân ở các phường đô thị được gắn đồng hồ nước.

Nhanh chóng xây dựng chương trình bảo vệ môi trường đô thị. Tích cực phối hợp cùng các ngành Thành phố hoàn thành chương trình nạo vét kênh Tham Lương và di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm đã được phê duyệt đến năm 2010. Chấn chỉnh mạng lưới thu gom vận chuyển rác đảm bảo đúng quy trình, quy định; giải quyết cơ bản tình trạng vứt rác bừa bãi xuống sông, kênh rạch.

3/ Nâng chất các hoạt động văn hoá - xã hội để tạo ra bước phát triển đồng bộ giữa kinh tế và văn hoá - xã hội:

Về giáo dục – đào tạo: Nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục - đào tạo, trong đó chú trọng chất lượng giáo dục ở các cấp học, đồng thời có khả năng đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực theo nhịp độ phát triển chung của xã hội. Chú trọng giáo dục đạo đức, trách nhiệm công dân, học chữ, học nghề phù hợp với từng lứa tuổi. Hoàn thiện quy hoạch phát triển trường lớp. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục, thu hút mọi nguồn lực trong và ngoài quận để phát triển trường học, đảm bảo đủ lớp học và các trang thiết bị dạy và học. Mở rộng loại hình giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng hoạt động có hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2010 có 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ, 95% đến 100% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo đến trường, từng bước nâng cao tỷ lệ học sinh bậc tiểu học, bậc trung học cơ sở học 2 buổi/ngày; đến cuối năm 2006 hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông. Chú trọng đào tạo vượt chuẩn, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên.

Về công tác chăm sóc sức khoẻ: đáp ứng tốt nhu cầu chữa bệnh tại chỗ cho nhân dân, nhất là các bệnh thông thường. Phấn đấu đạt 14 cán bộ y tế (trong đó có 5,5 bác sĩ) trên 10.000 dân vào năm 2010. Khuyến khích và tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động chăm sóc sức khỏe. Đầu tư cho công tác phòng chống dịch bệnh, ngăn chặn các mầm bệnh nguy hiểm, dịch bệnh có nguy cơ lây lan cao trong cộng đồng. Thực hiện tốt các chương trình: chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em; giữ tỷ lệ sinh tự nhiên 1,02%, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi tử vong và tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi suy dinh dưỡng, vận động mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1-2 con.

Về văn hoá - thể thao: Đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực văn hóa, thể thao; tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa quận - phường, phấn đấu có số người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên 25%, chú trọng đầu tư 2 bộ môn võ thuật và bóng đá; đầu tư trang thiết bị và nâng cấp các sân bãi để đảm bảo luyện tập cho vận động viên và rèn luyện sức khỏe trong học sinh.

Về chăm lo chính sách xã hội: Tập trung chăm lo đời sống các đối tượng diện chính sách; thường xuyên thực hiện sửa chữa, nâng cấp nhà tình nghĩa, đặc biệt là đối với những đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn, đơn chiếc.

Tiếp tục thực hiện và nâng chất cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn dân cư”, phấn đấu có ỉt nhất 1 phường được công nhận phường văn hóa đảm bảo tỷ lệ khu phố, hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa nâng dần hàng năm và được công nhận đúng thực chất. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong ý thức nhân dân về nếp sống đô thị. Tiếp tục thực hiện nâng chất chương trình mục tiêu “3 giảm”, làm trong sạch địa bàn, đấu tranh có hiệu quả các tệ nạn xã hội.

Hoàn thành mục tiêu chương trình giảm nghèo theo tiêu chí mới (giai đoạn 1); phấn đấu đến năm 2008 cơ bản xóa hộ nghèo; đạt chỉ tiêu giải quyết việc làm cho 6500 – 7000 lao động/ năm.

4/ Đảm bảo thực hiện tốt công tác quốc phòng an ninh và hoạt động tư pháp:

Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trong quần chúng, trong nội bộ Đảng; đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch để đảm bảo nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phục vụ tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội quận. Củng cố lực lượng công an, quân đội trong sạch, vững mạnh, có quan điểm chính trị vững vàng và giỏi về nghiệp vụ. Đảm bảo công tác nắm tình hình, quản lý đối tượng để chủ động có biện pháp, đối sách, không để xảy ra bị động, bất ngờ trước các hoạt động phá hoại của kẻ địch trên địa bàn. Tiếp tục giáo dục nâng cao kiến thức quốc phòng an ninh cho toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân trong tình hình mới. Đảm bảo công tác tuyển và giao quân hàng năm đủ số lượng, đạt chất lượng; bổ sung phương án “Phòng chống gây rối biểu tình bạo loạn và khủng bố” và tổ chức diễn tập hàng năm đạt hiệu quả.

Tiếp tục thực hiện chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm, ma tuý. Làm tốt công tác đấu tranh phòng ngừa, đạt chỉ tiêu và nâng tỉ lệ khám phá án hàng năm. Triệt phá các băng nhóm tội phạm trên địa bàn, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc sâu rộng đến tận tổ dân phố, cơ quan, xí nghiệp. Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh doanh ngành nghề nhạy cảm, công tác quản lý nhân hộ khẩu, công tác phòng cháy chữa cháy; trật tự an toàn giao thông, kéo giảm số vụ tai nạn giao thông.

Tiếp tục lãnh đạo cải cách tư pháp. Tăng cường giám sát và kiểm soát hoạt động tư pháp đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật; thanh tra phòng ngừa, phát hiện và kiên quyết chống các biểu hiện, hành vi tiêu cực, tham nhũng. Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng quy trình, đúng pháp luật. Các ngành tư pháp phải có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đúng pháp luật, phục vụ cho công tác phòng chống tội phạm. Các cấp ủy Đảng, chính quyền phải lãnh đạo và quan tâm bồi dưỡng về chính trị, đạo đức, nghiệp vụ, trang bị thêm phương tiện để đảm bảo hoạt động tư pháp và hỗ trợ tư pháp. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao kiến thức pháp luật trong Đảng viên, công nhân viên chức và nhân dân để thực thi và chấp hành nghiêm pháp luật.

Các chương trình, công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội:

Quá trình thực hiện các nhiệm vụ, tập trung xây dựng, triển khai tổ chức thực hiện có chất lượng các chương trình (công trình) trọng điểm sau:

1- Chương trình xây dựng 5000 căn nhà và nền đất tái định cư để đáp ứng nhu cầu tái định cư cho các dự án đầu tư trên địa bàn quận

2- Chương trình đường giao thông: thực hiện bê tông nhựa nóng 60km đường do Quận quản lý .

3- Chương trình xây dựng trường học mới ở các bậc học.

4- Công trình xây dựng và đưa vào sử dụng Trung tâm văn hoá - thể thao, tại phường Hiệp Thành (khu đất 19,5 ha).

II- XÂY DỰNG, CỦNG CỐ VÀ KIỆN TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6(2), phát huy dân chủ và tăng cường kỷ cương trong Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng, năng lực tổ chức điều hành và hiệu lực quản lý của chính quyền. Tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng các đoàn thể vững mạnh.

1/ Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ:

1.1 Công tác chính trị – tư tưởng:

đĐổi mới phương pháp và hình thức tổ chức học tập, nghiên cứu các nghị quyết của Đảng, kịp thời thông tin về tình hình của đất nước, thành phố, đặc biệt biên soạn và giới thiệu nhiều thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của quận, phường. Tổ chức nhiều hình thức đa dạng, phong phú học tập chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm giáo dục, xây dựng niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân vào mục tiêu lý tưởng cách mạng, tạo ra sự thống nhất trong Đảng và đồng tình trong xã hội về đường lối chính sách, chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước.

Tăng cường giáo dục truyền thống, đạo đức; xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cụ thể hóa những tiêu chí chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ công chức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn của từng đơn vị. Phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực; đúc kết kinh nghiệm từ các sai phạm, các thành công để giáo dục cán bộ, đảng viên.

1.2 Công tác tổ chức cán bộ:

Đổi mới nhận thức về nội dung và phương pháp đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên thông qua việc cụ thể hoá các tiêu chí đánh giá theo quy định của trên sát với nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng loại hình tổ chức Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ ở cơ sở nhất là ở khu phố, cơ quan hành chính sự nghiệp.

Coi trọng công tác rèn luyện đảng viên, phấn đấu hàng năm tất cả đảng viên đều đủ tư cách, có ít nhất 75% tổ chức Đảng ở mỗi cấp đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh, không có tổ chức Đảng yếu kém. Làm tốt công tác phát triển Đảng, phấn đấu kết nạp 500 đảng viên mới, trong đó có trên 60% được phát triển từ lực lượng đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; tập trung phát triển đảng viên ở địa bàn dân cư, trường học, các đơn vị sự nghiệp và ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chú trọng chất lượng quần chúng ưu tú vào Đảng.

Tiếp tục kiện toàn hệ thống chính trị của quận và phường. Thực hiện tốt công tác quản lý, đánh giá cán bộ và quy hoạch – đào tạo cán bộ. Trong 5 năm tới, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức đạt chuẩn quy định. Mỗi cán bộ, công chức phải “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”.

Xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả chương trìnhđào tạo, bồi dưỡng cán bộ - công chức của hệ thống chính trị quận, phường theo chuẩn chức danh cán bộ”.

Làm tốt công tác bảo vệ nội bộ Đảng, bảo vệ cán bộ, công tác sưu tra lịch sử chính trị, quản lý quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên. Chống mọi biểu hiện cơ hội, bè phái gây mất đoàn kết nội bộ làm suy yếu sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Quận ủy là trung tâm đoàn kết, thống nhất ý chí và gương mẫu trong mọi hành động cho cả hệ thống chính trị.

1.3 Công tác kiểm tra Đảng:

Tăng cường công tác kiểm tra của Quận ủy và cấp ủy cơ sở về thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, thực hiện các chủ trương Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chủ động kiểm tra tổ chức Đảng và đảng viên để ngăn ngừa vi phạm. Đi sâu vào nhiệm vụ giữ gìn kỷ cương, kỷ luật của Đảng; ngăn ngừa cán bộ, đảng viên có biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức trách nhiệm vụ để trục lợi, thu vén cá nhân. Giải quyết khẩn trương các đơn thư khiếu nại tố cáo có liên quan đến cán bộ, đảng viên đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy Đảng, Nhà nước. Trong xử lý kỷ luật phải trên quan điểm công minh, chính xác, kịp thời, khách quan, tránh thiên vị tình cảm làm ảnh hưởng đến sự giáo dục chung của Đảng.

Vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng chống quan liêu tham nhũng, lãng phí; làm trong sạch bộ máy. Trong đó đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

2/ Nâng cao năng lực điều hành và hiệu lực quản lý Nhà nước:

Quản lý Nhà nước phải vươn lên đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Phát huy mạnh mẽ hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện tốt chế độ tiếp và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân có hiệu quả từ cơ sở. Tăng cường kiểm tra thực hiện qui chế dân chủ cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống các thủ tục, quy trình hành chính: công khai, minh bạch, nhanh chóng, thông suốt, đúng luật, không phiền hà dân; ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị.

Xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, trách nhiệm; tiếp tục kiện toàn, tinh gọn và ổn định tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ nghiêm trật tự, kỷ cương trong các mối quan hệ, sự phối hợp giữa các ngành, các tổ chức Mặt trận và đoàn thể quận, phường. Xử lý kiên quyết tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và công việc.

Tăng cường năng lực hoạt động và trách nhiệm của chính quyền phường. Tiếp tục phân cấp mạnh cho phường đi đôi với việc kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy cũng như tạo mọi điều kiện để phường phát huy được hiệu quả, hiệu lực từ cơ sở. Tổ chức thực hiện đạt yêu cầu cao cơ chế “1 cửa”.

Tiếp tục kiện toàn, nâng cao trách nhiệm của tổ chức và hoạt động của các phòng ban chuyên môn thuộc UBND quận theo hướng tinh gọn, hiệu quả, vừa làm tốt vai trò tham mưu giúp việc, vừa là nơi hỗ trợ đắc lực cho việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sát ở cơ sở. Thực hiện nghiêm túc đánh giá, phân loại và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức hàng năm, đặc biệt đào tạo có địa chỉ và theo chuẩn chức danh cán bộ theo quy định. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ công chức không đủ phẩm chất đạo đức, yếu kém năng lực.

3/ Chăm lo công tác vận động quần chúng, đổi mới hoạt động mặt trận và các đoàn thể:

Tiếp tục chăm lo cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, phát huy dân chủ, động viên đông đảo các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng, phát triển Quận.

Tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội nghề nghiệp, chủ yếu tổ chức các hoạt động từ cơ sở. Giáo dục giúp đỡ quần chúng chậm tiến; động viên, khơi dậy các tiềm lực của người dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội. Phát huy vai trò giám sát, góp phần ngăn chặn có hiệu quả tệ quan liêu xa rời dân của bộ máy.

Đối với công nhân: Tạo điều kiện để công nhân nâng cao nhận thức chính trị, kiến thức pháp luật, học vấn, tay nghề, quan tâm môi trường sống ở các khu lưu trú; củng cố tổ chức công đoàn vững mạnh thực hiện tốt chức năng với người lao động. Chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở có bản lĩnh chính trị, kỹ năng hoạt động.

Đối với nông dân: Nâng cao đời sống vật chất tinh thần nông dân trong xây dựng cuộc sống mới, xây dựng các tổ hợp tác dịch vụ, đầu tư chuyển dịch cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi ngành nghề cho người nông dân phù hợp với quá trình đô thị hóa.

Đối với thanh niên: Chú trọng công tác tuyên truyền về Đảng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, tập trung xây dựng chi đoàn khu phố, Đoàn khối cơ quan hành chính đủ sức tập hợp thanh niên vào các tổ chức do Đoàn làm nòng cốt và đấu tranh có hiệu quả với lối sống thực dụng, thiếu lành mạnh trong thanh niên.

Đối với phụ nữ: Tập trung lãnh đạo nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị về công tác phụ nữ, chính sách cán bộ nữ, về bình đẳng giới; tạo điều kiện nâng cao trình độ học vấn, việc làm, chăm lo sức khỏe cho giới nữ. Phát huy vai trò phụ nữ tham gia ngày càng nhiều các hoạt động xã hội, xây dựng gia đình văn hóa.

Đối với cựu chiến binh, Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến, Cựu tù chính trị, hưu trí, gia đình chính sách: Với trách nhiệm “uống nước nhớ nguồn” thực hiện chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, bằng nhiều nguồn lực tiếp tục chăm lo đời sống, sức khỏe, thực hiện tốt các chế độ đối với người có công với nước. Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Cựu chiến binh trong việc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đồng thời là chỗ dựa tin cậy của Đảng, chính quyền cơ sở; nêu gương và góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, tình yêu quê hương, đất nước cho thanh, thiếu nhi.

Đối với người cao tuổi: Nêu gương và góp phần giáo dục con cháu, xây dựng tình đoàn kết và nếp sống lành mạnh ở tổ dân phố, chăm lo đời sống tinh thần, đặc biệt quan tâm người cao tuổi nghèo, neo đơn.

Đối với đồng bào là tín đồ các tôn giáo: Tạo điều kiện để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đúng pháp luật. Vận động, phát huy vai trò khả năng các tổ chức tôn giáo và tín đồ trong xây dựng làng nghề truyền thống, tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo... vận động tín đồ phát huy lòng yêu nước, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, sống “tốt đạo đẹp đời”.

Phần thứ ba

CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

----------------

1/ Nhóm giải pháp về kinh tế - xã hội:

1.1 Huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển: chú trọng nguồn vốn trong dân và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp về thông tin, các thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng các khu nhà ở phục vụ tái định cư, khu đô thị mới, trung tâm thương mại, siêu thị, kho bãi và các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng. Tổ chức quản lý và khai thác có hiệu quả đất công, tài sản công tạo vốn để phục vụ đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thông qua sắp xếp hoán đổi, bán đấu giá các công sản hoạt động kém hiệu quả; thu hồi và đẩy nhanh tiến độ bán đấu giá đất và nhà xưởng. Tổ chức đối thoại gặp gỡ doanh nghiệp, có đường dây nóng cho doanh nghịêp gặp lãnh đạo.

- Duy trì diện tích hợp lý cho cây lài, số lượng đàn bò sữa, hỗ trợ hoạt động của làng nghề cá sấu. Đầu tư phát triển nông nghiệp phục vụ đô thị: đặc biệt là các làng nghề hoa kiểng, cá cảnh, kết hợp chặt chẽ với phát triển du lịch sinh thái ven sông Sài Gòn, đưa các làng nghề trở thành điểm du lịch.

1.2 Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác quản lý đô thị: làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, vận động nhân dân cùng tham gia thực hiện trật tự kỷ cương trong lĩnh vực xây dựng, đất đai, môi trường, đảm bảo quy hoạch.

Thực hiện có hiệu quả các chương trình xã hội hoá trong đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng, nhất là chương trình phát triển giao thông đô thị, kết hợp xây dựng hệ thống thoát nước. Vận động nhân dân góp đất, góp vốn để xây dựng nâng cấp hẻm và đường nội bộ.

Bám sát và thực hiện đúng các Nghị quyết của Đảng, các quy định của nhà nước, sáng tạo các giải pháp thực tiễn. Kịp thời kiến nghị với Thành phố để tháo gỡ những khó khăn, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý đô thị. Chú trọng việc liên kết và học tập kinh nghiệm từ các quận, huyện bạn, tỉnh bạn.

Xem trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo năng lực chuyên môn đi đôi với giáo dục đạo đức phẩm chất cho đội ngũ cán bộ, công chức từ quận đến phường trong lĩnh vực đất đai, xây dựng.

1.3 Xã hội hóa mạnh mẽ các lĩnh vực văn hóa – xã hội đặc biệt là giáo dục. Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới trường lớp đến năm 2010, cần mời gọi đầu tư từ xã hội theo hướng Nhà nước hỗ trợ quỹ đất, tạo điều kiện về giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư xây dựng trường học, bệnh viện, khu sinh hoạt văn hóa, thể thao. Tạo điều kiện để hệ thống dạy nghề, khám chữa bệnh của quận được liên kết với các đơn vị có uy tín trên địa bàn thành phố.

1.4 Nâng cao vai trò của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và quần chúng trong việc tham gia và giám sát việc thực hiện qui chế dân chủ cơ sở, giám sát cán bộ đảng viên, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ; động viên nhân dân tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Làm tốt công tác thi đua, khen thưởng, phát hiện và nhân rộng các điển hình tiên tiến.

2/ Nhóm giải pháp về xây dựng và phát huy đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống chính trị:

2.1 Triển khai chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ - công chức của hệ thống chính trị quận, phường theo chuẩn chức danh cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tập trung đào tạo, bổ sung chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ, không dàn đều, tràn lan. Thực hiện tốt công tác bố trí, luân chuyển cán bộ để rèn luyện qua thực tiễn công tác; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, thụ động, thiếu năng lực... Hàng năm tổ chức học tập các chuyên đề bổ sung kiến thức cho cán bộ đảng viên.

2.2 Đổi mới công tác cán bộ ngay từ khâu tuyển dụng, thi tuyển một số chức danh quản lý; công khai đánh giá cán bộ công chức; phát huy vai trò trách nhiệm của cấp ủy Đảng, của các tổ chức Mặt trận, đoàn thể chính trị xã hội trong việc xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ công chức. Định kỳ và thường xuyên tổ chức thăm dò, lấy ý kiến đánh giá cán bộ trong diện quy hoạch, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo để kịp thời điều chỉnh, thay thế những cán bộ yếu kém về trình độ năng lực, có tín nhiệm của quần chúng thấp. Đảm bảo việc sắp xếp, bố trí cán bộ phát huy được hiệu quả hoạt động, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao ngày càng cao hơn, tốt hơn.

3/ Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước:

3.1 Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng theo phương châm hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát thực tế. Mỗi cấp ủy mà trước hết là Ban Chấp hành Đảng bộ quận phải có kế hoạch phân công các cấp ủy viên định kỳ làm việc với cơ sở, thông tin kịp thời các chủ trương, nhiệm vụ và giải quyết nhanh những bức xúc của dân, coi trọng kiểm tra công tác triển khai thực hiện Nghị quyết ở cơ sở; phát hiện, nhân rộng các mô hình sáng tạo, hiệu quả trên các lĩnh vực.

3.2 Thực hiện sự lãnh đạo đối với chính quyền theo hướng tăng cường kiểm tra việc quán triệt, tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng về kinh tế - xã hội của cấp ủy, của cán bộ, đảng viên ở các cơ quan chính quyền. Tạo mọi thuận lợi để chính quyền chủ động trong quản lý điều hành, thực hiện các chủ trương Nghị quyết của Đảng, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ đảng viên trong quá trình đó.

3.3 Cải tiến nội dung làm việc định kỳ của cấp ủy với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và Ban chấp hành các đoàn thể; bảo đảm tính thiết thực, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của chính quyền, của đoàn thể, vừa đảm bảo sự gắn kết trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữa các ngành, các cấp. Tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể phối hợp chặt chẽ với cấp ủy cơ sở giải quyết các vấn đề khó ở phường và khu phố.

3.4 Xây dựng phong cách làm việc theo qui chế, theo chương trình trên tất cả các nội dung. Vì vậy phải rà soát, hoàn chỉnh các qui chế làm việc của các cấp ủy; xây dựng qui chế cho các lĩnh vực cụ thể. Đề cao trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu…Hướng dẫn hoạt động của các loại hình cơ sở Đảng theo đúng qui định của Trung ương. Nâng cao chất lượng các cuộc họp, cải tiến cách ra Nghị quyết theo hướng ngắn gọn, rõ nội dung; có Nghị quyết chuyên đề đối với các vấn đề bức thiết, quan trọng.

3.5 Đổi mới, sắp xếp, củng cố, kiện toàn các ban Đảng, Văn phòng Quận ủy và các phòng ban thuộc UBND quận cả về tổ chức và năng lực tham mưu. Quan tâm mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị trong khối Đảng, chính quyền nhằm giúp cấp ủy nắm tình hình, kiểm tra Nghị quyết; kịp thời đề xuất những chủ trương, cách làm hiệu quả; đảm bảo Nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp ủy được thực hiện với kết quả cao nhất. Nghiên cứu thành lập Đảng bộ khối Đảng và Đảng bộ khối chính quyền.

3.6 Xây dựng bộ máy hành chính Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả.

- Tăng cường hoạt động giám sát, hoạt động chất vấn của Hội đồng nhân dân trong thực hiện các chương trình, công trình trọng điểm và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở song song với nâng cao tính chấp hành kỷ cương trong công tác điều hành của chính quyền.

- Thực hiện tin học hóa trong công tác quản lý, liên thông giữa phường, quận, tiến tới áp dụng ISO trong công tác quản lý hành chính và các dịch vụ hành chính công cấp quận.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ quận 12 nhiệm kỳ III ý thức sâu sắc trách nhiệm nặng nề của mình đối với Thành phố và nhân dân địa phương. Dù có những thuận lợi cơ bản đan xen với không ít khó khăn, thử thách nhưng với sự tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng, tinh thần đoàn kết, thống nhất, năng động, sáng tạo... Đảng bộ quyết tâm lãnh đạo các tầng lớp nhân dân tận dụng thời cơ vượt qua thử thách, thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, xứng đáng với truyền thống quật cường, bất khuất của quê hương chiến khu An Phú Đông và đáp ứng được sự tin tưởng và kỳ vọng của nhân dân./.

Thông báo