Thứ Hai, ngày 20 tháng 9 năm 2021

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ quận khóa III trình Đại hội đại biểu Đảng bộ quận lần thứ IV nhiệm kỳ 2010-2015

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ III (2005 – 2010) được triển khai thực hiện trong điều kiện có những thuận lợi cơ bản: đó là sự đoàn kết thống nhất và quyết tâm cao của Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ quận đến cơ sở; Quận có vị trí địa lý là cửa ngõ giao thông phía Tây Bắc Thành phố, kết nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh thành miền Đông, miền Tây nam bộ, nguồn quỹ đất dự trữ cho phát triển còn cao; kế thừa những thành quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong giai đoạn 1997 – 2005; sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo sâu sát của Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố và sự hỗ trợ của các Sở ngành chức năng cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân.

Bên cạnh đó, quận cũng gặp không ít khó khăn về điều kiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tác động của triều cường, nước dâng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân ở ba phường ven sông Sài Gòn; dân số tăng quá nhanh, chủ yếu là tăng dân số cơ học dẫn đến nhiều vấn đề xã hội chưa thể đáp ứng; trình độ, năng lực một bộ phận cán bộ công chức, viên chức quận - phường chưa ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ; trình độ dân trí của các bộ phận dân cư không đồng đều, nếp nghĩ, cách làm vẫn còn mang đậm nét sản xuất nhỏ; chưa khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý, tài nguyên đất đai, nguồn lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; ngoài ra, một số cơ chế, chính sách nhà nước thường xuyên thay đổi, bổ sung và còn nhiều bất cập, nhất là trong lĩnh vực đất đai, xây dựng cơ bản, bồi thường giải phóng mặt bằng; tình hình khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới… đã có những tác động nhất định đến kết quả lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ quận lần thứ III, nhiệm kỳ 2005 - 2010.

Phần thứ nhất

Tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ III nhiệm kỳ 2005 - 2010

A. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I. LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG – AN NINH, HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP   

1. Quản lý, phát triển theo đúng định hướng chuyển dịch cơ cấu  kinh tế:

Kinh tế tiếp tục phát triển, đảm bảo mức tăng trưởng hàng năm, ổn định và từng bước chuyển dịch cơ cấu đúng định hướng. Thực hiện Chương trình thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó tập trung lãnh đạo công tác quy hoạch mạng lưới chợ, siêu thị và trung tâm thương mại, đầu tư hạ tầng, xác định các khu trung tâm và trục động lực; phát huy thế mạnh các ngành truyền thống, ưu tiên phát triển những ngành mới có giá trị kinh tế cao, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đúng quy hoạch. Tính đến 6 tháng đầu năm 2010 ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng 58,41% (Nghị quyết:57%); ngành công nghiệp là 40,49% (Nghị quyết:40%) và ngành nông nghiệp chiếm 1,1%  (Nghị quyết: 3%).

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 18,11%; trong đó, doanh thu ngành dịch vụ bình quân tăng 20,2%/năm, từng bước hình thành các ngành dịch vụ cao cấp như ngân hàng, bưu chính viễn thông, khách sạn đạt chuẩn, siêu thị,..; ngành công nghiệp tăng 15,9%/năm, tập trung vào các ngành dệt may, giày da và sản xuất những sản phẩm từ kim loại; ngành nông nghiệp giảm 2,34%/năm và đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hình thành các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao như chăn nuôi thỏ, cá sấu, trồng hoa kiểng, mai, phong lan…

Thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện và hỗ trợ các thành phần kinh tế hoạt động và phát triển đúng theo quy định của pháp luật. Tình hình đầu tư phát triển liên tục tăng, tổng số vốn đầu tư năm cuối so với năm đầu nhiệm kỳ tăng gấp ba lần (năm 2006 thu hút 826,02 tỷ đồng, dự kiến năm 2010 thu hút khoảng 2.900 tỷ đồng).

Công tác thu - chi ngân sách đạt kết quả tốt, đảm bảo nhiệm vụ chi thường xuyên. Thực hiện tốt công tác điều hành ngân sách, tổng thu ngân sách cả nhiệm kỳ đạt trên 2209,6 tỷ đồng, hàng năm luôn vượt chỉ tiêu pháp lệnh từ 5% đến 60%; ngân sách chi nhiệm vụ thường xuyên và chi đầu tư phát triển được đảm bảo; thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách (đã tiết kiệm được 1,993 tỷ đồng).

2. Công tác quản lý, phát triển đô thị đạt được nhiều kết quả tích cực

Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch ngày càng được chú trọng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển. Đã quy hoạch chi tiết xây dựng 1/2000 phủ kín 92% diện tích đất tự nhiên (8% diện tích còn lại là khu công viên cây xanh không cần lập quy hoạch chi tiết), tập trung điều chỉnh quy hoạch đối với các khu vực không còn phù hợp, đã điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất các khu công nghiệp và đất sản xuất công nghiệp thành đất hỗn hợp để linh hoạt chuyển đổi mục đích, tạo quỹ đất cho công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; hoàn chỉnh quy hoạch hẻm giới 11 phường và hệ thống quy hoạch ngành; đã xác định 06 khu trung tâm và 11 trục động lực của quận để kêu gọi đầu tư (thay thế cho 10 khu trung tâm hành chính quận và 02 tuyến đường cảnh quan theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận nhiệm kỳ III), góp phần tích cực vào nhiệm vụ phát triển đô thị, thu hút đầu tư vào quận để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, thay đổi diện mạo của địa phương.

Công tác quản lý đất đai, nhà ở ngày càng hoàn thiện hơn: Hoàn chỉnh các đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng và quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; thường xuyên kiểm tra, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, đề xuất thu hồi đối với một số dự án được giao đất nhưng chậm thực hiện; công tác quản lý quỹ đất nhà nước trực tiếp quản lý, công sản từng bước đi vào nề nếp, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng quỹ đất để phục vụ các công trình công cộng, bố trí tái định cư và tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Đầu tư, quản lý hạ tầng kỹ thuật có nhiều tiến bộ, tạo tiền đề cho quá trình đô thị hóa: Đã đầu tư 75 tuyến đường với tổng chiều dài 71,33 km với tổng kinh phí 565,949 tỷ đồng; thực hiện được 92,423km đường, các tuyến hẻm vượt chỉ tiêu Nghị quyết 516,15%, với tổng kinh phí thực hiện hơn 48,786 tỷ đồng theo phương thức xã hội hóa (bao gồm cả giá trị xây lắp, giá trị đất, vật kiến trúc nhân dân hiến); đã xây dựng và đưa vào sử dụng một số công trình phục vụ yêu cầu cấp thiết của quận như trụ sở Trung tâm hành chính quận, Trụ sở hành chính các phường, Nhà truyền thống Tân Thới Nhất…

Tập trung đầu tư các công trình phòng chống lụt bão và bờ bao kết hợp giao thông (123 công trình, tổng chiều dài 52,744 km với tổng kinh phí 162,905 tỷ đồng), dự án bờ hữu sông Sài Gòn được cấp trên thực hiện cùng với việc thường xuyên gia cố đê bao tại các khu vực bị triều cường đã góp phần hạn chế thiệt hại về hoa màu và tài sản của nhân dân.

Phối hợp cùng Thành phố phát triển mạng lưới cấp nước, có 21,09% hộ dân sử dụng nước máy; cơ bản đảm bảo việc đấu nối hệ thống thoát nước khi thực hiện các tuyến đường giao thông và đang triển khai thực hiện chương trình mục tiêu chống ngập trên địa bàn quận.  

Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư được tập trung lãnh đạo, không để xảy ra tình hình phức tạp kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ các dự án; đã kịp thời bố trí tái định cư cho các trường hợp bị ảnh hưởng, không còn trường hợp tái định cư dài hạn chưa được bố trí.   

Công tác quản lý trật tự đô thị ngày càng đi vào nề nếp hơn. Thường xuyên kiểm tra và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm xây dựng, hàng năm kéo giảm số vụ vi phạm, tỷ lệ chấp hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính được nâng lên đã góp phần lập lại trật tự xây dựng trên địa bàn. Nỗ lực tập trung thực hiện các giải pháp giữ gìn trật tự lòng lề đường, đến nay tình trạng tụ tập mua bán, lấn chiếm lòng lề đường tại các điểm phức tạp cơ bản đã được giải quyết, tạo sự thông thoáng cho các trục đường giao thông chính, bước đầu xây dựng mỹ quan đô thị tại các tuyến đường điểm thực hiện nếp sống văn minh đô thị. 

Công tác quản lý môi trường được quan tâm thực hiện, cơ bản đã di dời xong 09 đơn vị sản xuất gây ô nhiễm môi trường theo quyết định của Thành phố, đảm bảo chỉ tiêu Nghị quyết đề ra; từng bước chấn chỉnh mạng lưới thu gom và vận chuyển rác, đến nay có khoảng 80% số hộ được thu gom rác.

3. Quản lý, phát triển văn hóa - xã hội được nâng chất, đời sống nhân dân được cải thiện

Công tác giáo dục đạt được nhiều tiến bộ, chất lượng từng bước nâng cao. Tích cực đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy, chuẩn hóa trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, chú trọng công tác giáo dục đạo đức lối sống, trách nhiệm công dân cho học sinh; đầu tư trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn và hiện đại hóa; hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường lớp. Hàng năm, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học và tốt nghiệp trung học cơ sở đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, sớm hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học (trước 01 năm so với Nghị quyết); Xây dựng được 04 trường đạt chuẩn Quốc gia; đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên phát triển nhanh cả về chất lượng lẫn số lượng (có 100% cán bộ quản lý, 99,7% giáo viên đạt chuẩn, trong đó có 82,5% cán bộ quản lý và 69,7% giáo viên trên chuẩn). Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển theo chiều sâu và đạt được những kết quả tích cực, đến nay 11/11 phường có Trung tâm học tập cộng đồng và hoạt động có hiệu quả, được Thành phố đánh giá cao; hệ thống trường lớp ngoài công lập phát triển nhanh gắn với từng cụm dân cư, góp phần đảm bảo công tác huy động trẻ đến trường.

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Chủ động triển khai các chương trình phòng, chống dịch bệnh; tăng cường công tác kiểm tra xử lý các trường hợp vi phạm, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn, thực hiện công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm: đã kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện (cấp quận đạt 89,7%, cấp phường đạt 77,36%). Cơ bản hoàn thiện mạng lưới y tế từ quận đến phường, đầu tư trang thiết bị theo chuẩn quốc gia; tạo điều kiện thuận lợi đội ngũ cán bộ y tế học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; đến nay đã có 764 cán bộ y tế, đạt tỷ lệ 18,1 cán bộ y tế /10.000 dân và 4,63 bác sỹ / 10.000 dân. Thực hiện tốt chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kéo giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực y tế được tăng cường, thường xuyên kiểm tra chấn chỉnh và định hướng hoạt động đối với các cơ sở y tế tư nhân trên địa bàn quận, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.  

Hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao có nhiều khởi sắc, bước đầu phục vụ nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, theo đúng định hướng và nâng cao nhận thức chính trị - xã hội và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân. Hoạt động của bản tin quận, tờ tin phường, đài truyền thanh từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác thông tin tuyên truyền, đã đầu tư xây dựng Nhà truyền thống An Phú Đông, Tân Thới Nhất, khu tưởng niệm Vườn Cau Đỏ, nâng cấp Nhà tưởng niệm Nguyễn An Ninh, trùng tu Di tích lịch sử - văn hóa Miếu Cây Quéo, góp phần phục vụ nhu cầu sinh hoạt và giáo dục về truyền thống đấu tranh của nhân dân.

Hoạt động văn hóa văn nghệ được chú trọng, phát triển mạnh, duy trì và ngày càng nâng chất các hội diễn liên hoan văn nghệ; phát triển nhiều mô hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ (hiện có 152 câu lạc bộ với hơn 5.000 thành viên gồm các loại: câu lạc bộ thơ ca, câu lạc bộ sáng tác, đội thông tin tuyên truyền và đội văn nghệ). 

Phong trào thể dục thể thao có nhiều tiến bộ, tập trung xây dựng lực lượng năng khiếu ở một số môn mũi nhọn như võ thuật, điền kinh, bóng đá (đạt 1.199 huy chương); số người tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên tăng lên hàng năm, đến nay đạt 24,4%; mời gọi đầu tư, đa dạng hóa các loại hình tập luyện thể dục thể thao (có 188 câu lạc bộ, điểm tập luyện thường xuyên).

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư” gắn với “xây dựng nếp sống văn minh đô thị” đạt được kết quả bước đầu; các thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm đầu tư, đã đưa vào hoạt động 03 Nhà văn hóa – thể thao phường, Nhà văn hóa lao động, Nhà thiếu nhi quận; Xây dựng các mô hình “tuyến đường không rác”, “tuyến đường xanh – sạch – đẹp”, nhân rộng mô hình “nhà trọ tự quản”, “ tổ công nhân tự quản”. 

Công tác chăm lo chính sách - xã hội đi vào chiều sâu, phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc chăm lo đời sống nhân dân; công tác đào tạo nghề đáp ứng được nhu cầu học tập của người lao động; thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ xã hội, chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội, hoạt động chăm sóc bảo vệ trẻ em.... Công tác chăm lo các đối tượng chính sách, hộ nghèo được thực hiện chu đáo, kịp thời bằng các nguồn lực trong xã hội, trong đó chú trọng việc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, các chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người có công cách mạng và dân nghèo.

Xây dựng quỹ “Vì người nghèo”, quỹ “Xóa đói giảm nghèo” và các hoạt động từ thiện khác…từng bước giúp hộ nghèo ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững. Đến cuối năm 2008, quận đã cơ bản không còn hộ nghèo có mức thu nhập bình quân từ 6 triệu đồng/người/năm trở xuống, tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ giúp hộ nghèo vượt chuẩn nghèo có mức thu nhập bình quân từ 12 triệu đồng/người/năm trở xuống (hiện còn 7.016 hộ, chiếm 6,37% trên tổng hộ dân toàn quận).

Công tác dạy nghề được chú trọng thực hiện, đầu tư trang thiết bị mới, mở nhiều ngành nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu của người lao động, bước đầu hỗ trợ người lao động chuyển đổi ngành nghề trong quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận. Hàng năm, đạt và vượt chỉ tiêu về đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động.

4. Nhiệm vụ Quốc phòng - an ninh, hoạt động tư pháp được đảm bảo

Hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự địa phương, xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Công tác xây dựng khu vực tác chiến phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu được đảm bảo; duy trì và thực hiện có hiệu quả kế hoạch hợp đồng tác chiến đối với các đơn vị quân đội trú đóng và các lực lượng khác trong tác chiến phòng thủ khu vực; chế độ trực ban, trực sẵn sàng chiến đấu thường xuyên và cao điểm ngày lễ, tết được thực hiện tốt; tổ chức diễn tập kiểm tra phương án tác chiến phòng thủ và phòng chống biểu tình bạo loạn lật đổ đều đạt mục đích yêu cầu đề ra. 

Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm luôn hoàn thành chỉ tiêu cả hai cấp, tỷ lệ đảng viên nhập ngũ luôn đạt và vượt chỉ tiêu đề ra; thường xuyên tổ chức những lớp tập huấn nâng cao kiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng theo quy định; xây dựng kế hoạch và tổ chức giáo dục quốc phòng hàng năm cho đối tượng học sinh trung học phổ thông đạt 100%. 

Công tác xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại luôn được quan tâm, đảm bảo chỉ tiêu về đảng viên, đoàn viên trong lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên; 90-95% quân nhân dự bị hạng 1 được biên chế vào các đơn vị dự bị động viên, nhất là đối với các đơn vị làm nhiệm vụ A2 đạt 100% quân số; công tác huấn luyện nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng được đảm bảo, quân số huấn luyện hàng năm đạt từ 96% trở lên.

Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc đạt nhiều kết quả tích cực. Luôn chủ động nắm tình hình, giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến an ninh chính trị; giữ vững tình hình an ninh chính trị trên địa bàn. Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ thông qua các mô hình phòng chống tội phạm ngày càng hiệu quả như khu phố không có tội phạm ẩn náu hoạt động, nhóm hộ tự quản, tổ xe ôm tự quản, nhóm hộ tự quản về an ninh trật tự trong nhà trọ…; số vụ phạm pháp hình sự xảy ra 679 vụ (giảm 232 vụ so với nhiệm kỳ trước) đã khám phá 516 vụ đạt 75,99%; cơ bản giải quyết các tụ điểm mua bán và sử dụng trái phép chất ma tuý, cờ bạc và tệ nạn mại dâm; tai nạn giao thông so với nhiệm kỳ trước giảm 393 vụ, giảm 94 người chết.  

Hoạt động các cơ quan tư pháp có nhiều tiến bộ, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, tranh tụng tại các phiên toà được nâng lên, phục vụ tốt cho công tác phòng chống tội phạm. Đội ngũ cán bộ tư pháp từng bước được củng cố, đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao kiến thức pháp luật trong đảng viên, công nhân, công chức, viên chức và nhân dân để thực thi và chấp hành nghiêm pháp luật.

II. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THƯỜNG XUYÊN ĐƯỢC KIỆN TOÀN VÀ  NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG:

Tập trung củng cố kiện toàn hệ thống chính trị vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; đặc biệt kể từ khi thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị”, Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị ngày càng được nâng lên về chất, trong đó vai trò lãnh đạo cấp ủy Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị có những bước chuyển biến rõ nét hơn; hiệu quả hiệu lực quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực có nhiều khởi sắc; chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội được nâng cao và theo hướng chuyển mạnh về cơ sở, ngày càng có nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả tại cơ sở.       

1. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng được nâng lên khá toàn diện

Công tác chính trị - tư tưởng đảm bảo định hướng, đạt được yêu cầu đề ra là xây dựng niềm tin cho cán bộ đảng viên, nhân dân vào mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, củng cố nền tảng tư tưởng, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thực hiện tốt công tác học tập, triển khai, quán triệt Nghị quyết các cấp cho cán bộ đảng viên và lực lượng nòng cốt (tỷ lệ đạt từ 91% - 96,7%); đã tổ chức 146 lớp bồi dưỡng lý luận chính trị với 14.860 lượt cán bộ đảng viên; công tác tuyên truyền được thực hiện kịp thời, thường xuyên bằng nhiều hình thức thích hợp với từng đối tượng tuyên truyền, đã phối hợp với báo Sài Gòn Giải Phóng, đưa báo Đảng sâu rộng đến nhân dân, duy trì việc tổ chức báo cáo thời sự. Hoàn thành công trình biên soạn Lịch sử Đảng bộ quận giai đoạn 1997 – 2007; đồng thời chỉ đạo các phường biên soạn lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân phường (phường Đông Hưng Thuận đã thực hiện xong, phường Thới An và Thạnh Lộc đang tiến hành).

Sau gần 4 năm thực hiện Chỉ thị 06-CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã có những chuyển biến sâu sắc, tích cực trong nhận thức và ngày càng có nhiều việc làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ trong cán bộ đảng viên và nhân dân. Cuộc vận động đã có tác động tích cực đến việc hoàn thành các nội dung, chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ III đề ra, thông qua việc xây dựng và thực hiện quy định tiêu chuẩn đạo đức lối sống của cán bộ đảng viên ở các Cấp ủy, góp phần xây dựng Đảng về mặt đạo đức.

Qua kết quả điều tra dư luận xã hội cho thấy đa số đảng viên, cán bộ công chức và quần chúng nhân dân đánh giá khá tốt và tin tưởng về sự nỗ lực của quận trong 5 năm qua trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, dư luận đánh giá cao về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ III và phấn khởi trước những thành quả đạt được. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều băn khoăn, chưa hài lòng và mong muốn trong thời gian tới, quận cần quan tâm đến việc chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm; tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, phát triển hạ tầng kỹ thuật – xã hội; quan tâm chăm lo phát triển văn hóa – xã hội, trong đó chú trọng giải quyết ô nhiễm môi trường; tập trung đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác cán bộ để đảm bảo cho việc thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh. 

Công tác tổ chức cán bộ được quan tâm thực hiện và đi vào nề nếp. Qua gần hai năm thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo được sự chuyển biến về nhận thức và đạt được một số kết quả trong tổ chức thực hiện; đội ngũ cán bộ đảng viên ngày càng nâng cao về bản lĩnh chính trị, thể hiện tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên, hầu hết đều giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ hoàn thành tốt nhiệm vụ của người đảng viên.   

Tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi bộ theo Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng thông qua việc xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên theo quy định của cấp trên sát với nhiệm vụ từng loại hình và tổ chức đánh giá theo hướng đúng thực chất, không chạy theo thành tích; lãnh đạo việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của các cấp ủy; qua từng năm tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng, giảm dần tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ.

Công tác xây dựng tổ chức Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có sự tập trung chỉ đạo và bước đầu đạt được kết quả khá tốt, đã thành lập Đảng ủy khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thành lập 09 chi bộ trực thuộc Đảng ủy khối và 10 chi bộ trực thuộc Đảng ủy phường, đến nay có 10/11 phường có Chi bộ ngoài quốc doanh.        

Công tác kết nạp đảng viên được chỉ đạo tập trung, có nhiều tiến bộ. Quận ủy và tổ chức cơ sở Đảng chú trọng công tác bồi dưỡng nhận thức chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức của quần chúng. Tính đến tháng 6/2010 đã kết nạp 704 đảng viên, vượt 40,8% chỉ tiêu và cơ bản đảm bảo cơ cấu theo Nghị quyết đề ra, tỷ lệ đảng viên là nữ, công nhân, giáo viên, đoàn viên tăng dần hàng năm.

Gắn chặt các khâu trong công tác cán bộ, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong bố trí cán bộ, trong đó chú trọng thực hiện khá tốt việc rà soát và đưa vào quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp quận, cơ sở; mạnh dạn kiện toàn, sắp xếp, bố trí cán bộ trẻ về cơ sở rèn luyện tiếp cận các chức danh được quy hoạch để từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ kế thừa; tập trung đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị cho cán bộ công chức cơ bản đảm bảo chuẩn chức danh.     

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện tốt, tuân thủ đúng qui định của cấp trên và phục vụ tốt công tác kết nạp Đảng, công tác cán bộ, củng cố kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và hệ thống chính trị quận, phường.

Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng và tăng cường. Sau Đại hội đã xây dựng và ban hành nhiều quyết định, quy trình, chương trình thực hiện thống nhất và chỉ đạo xây dựng chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết Trung ương 3, 5 (khóa X); công tác triển khai quán triệt các quy định, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, qua đó, hầu hết các cấp ủy và đảng viên có sự thống nhất trong nhận thức và hành động, thấy được vị trí và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát.   

Đã triển khai 23 kế hoạch kiểm tra với 202 lượt đơn vị được kiểm tra, tổ chức giám sát chuyên đề tại 33 chi, Đảng bộ, tập trung vào các nội dung: chấp hành Điều lệ Đảng, Nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước; công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; công tác quản lý trật tự xây dựng; công tác quản lý, sử dụng công sản và các nguồn quỹ vận động do nhân dân đóng góp; việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Qua kiểm tra, giám sát đã góp phần phát huy các mặt tích cực và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong việc tổ chức thực hiện của cấp ủy cơ sở.

Công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm được chú trọng, đã tiến hành kiểm tra 09 tổ chức Đảng và 97 đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, qua kiểm tra có 09 tổ chức Đảng, 84 đảng viên có sai phạm, trong đó phải xử lý kỷ luật 02 tổ chức cơ sở Đảng và 47 đảng viên vi phạm. Kịp thời giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo liên quan đến cán bộ đảng viên.

Trong nhiệm kỳ đã xử lý kỷ luật 102 đảng viên (trong đó có 02 Quận ủy viên, 22 Đảng ủy viên, 13 chi ủy viên) và 02 tập thể cấp ủy, nội dung vi phạm nhiều nhất là: chấp hành Nghị quyết, thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái quy định nhà nước, phẩm chất đạo đức lối sống...; trong quá trình xem xét thi hành kỷ luật đảm bảo công minh, chính xác, đúng nội dung, tính chất sai phạm.

Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí được quan tâm lãnh chỉ đạo thực hiện gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nâng cao nhận thức về trách nhiệm trong phòng chống tham nhũng, lãng phí của các cấp ủy, đảng viên cán bộ công chức.    

2. Nhiệm vụ xây dựng chính quyền - cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực

Năng lực hoạt động, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên rõ nét. Hội đồng nhân dân quận, phường đã làm tốt vai trò, chức năng của cơ quan quyền lực địa phương; hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân được nâng lên, nội dung chất vấn toàn diện trên các lĩnh vực, những vấn đề bức xúc của nhân dân luôn được quan tâm. Bên cạnh đó để đảm bảo việc giám sát của nhân dân đối với hoạt động của chính quyền, Ủy ban nhân dân quận, phường phối hợp cùng Mặt trận Tổ quốc cùng cấp ký kết và thực hiện quy chế phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ .      

Ủy ban nhân dân quận đã kịp thời điều chỉnh bổ sung quy chế làm việc và phân công trách nhiệm từng thành viên Ủy ban nhân dân quận; ban hành các quy định cụ thể về chế độ hội họp, quy trình công tác phối hợp, điều hành giữa các đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân quận; kỷ luật, kỷ cương hành chính từng bước được chấn chỉnh... góp phần nâng cao chất lượng tham mưu và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước.

Thành lập mới phường Tân Hưng Thuận (trên cơ sở chia tách phường Đông Hưng Thuận); phòng Y tế, Trung tâm y tế dự phòng và Bệnh viện quận; sáp nhập, đổi tên và bổ sung nhiệm vụ một số đơn vị theo Nghị định của Chính phủ, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân Thành phố; ban hành quyết định bổ nhiệm, tái bổ nhiệm đối với cán bộ chủ chốt các phòng, ban, ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân quận; kiện toàn nhân sự chủ chốt một số phường, phòng ban; rà soát việc bố trí các chức danh công chức, cán bộ không chuyên trách phường để bố trí, sắp xếp lại theo đúng chuyên môn nghiệp vụ.

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được tăng cường và từng bước đi vào chiều sâu, đa dạng phong phú với nhiều hình thức như tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, hội thi, hỏi đáp… Công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại tố cáo có nhiều bước cải tiến, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các sai phạm của cán bộ công chức; tỷ lệ đơn thư khiếu nại tố cáo được giải quyết đúng thời hạn luật định đạt trên 90%, việc xử lý sau kết luận giải quyết đơn tố cáo được tiến hành kịp thời.

Công tác cải cách hành chính bước đầu được nâng lên, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân chuyển biến đáng kể

  Hoàn chỉnh rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, giảm thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ hành chính cho công dân; tổ chức nghiêm túc làm việc vào buổi sáng thứ bảy hàng tuần, giải quyết hồ sơ hành chính cho nhân dân.

Tích cực triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, đã xây dựng và duy trì trang Web của quận, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân trao đổi thông tin với chính quyền. Tập trung xây dựng trung tâm dữ liệu của quận, trang bị và đấu nối thông suốt mạng nội bộ cho một số phòng ban và Ủy ban nhân dân các phường; đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 vào hoạt động của một số cơ quan hành chính nhà nước tại quận và được nhân rộng tại 4 phường.

3. Công tác vận động quần chúng, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội từng bước đổi mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Các phong trào hành động cách mạng ngày càng thiết thực hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ góp phần vào quá trình thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đã đề ra.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được đổi mới, gắn với các phong trào thi đua yêu nước, phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Mặt trận Tổ quốc: thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng pháp luật, tập hợp và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; tích cực tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành pháp luật và hưởng ứng các cuộc vận động, phong trào hành động tại địa phương. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư” đã được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, phát huy tình làng nghĩa xóm trong khu dân cư; cuộc vận động “Vì người nghèo” đã huy động trên 5,8 tỷ đồng giúp đỡ người nghèo, khó khăn, hỗ trợ học bổng Nguyễn Hữu Thọ và nhiều hình thức chăm lo khác. 

 Liên đoàn lao động: phát động các phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, các phong trào văn hóa – văn nghệ thể dục thể thao, tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, chăm lo đời sống cho công đoàn viên, cán bộ, công chức và người lao động nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn; phối hợp kiểm tra việc thực hiện các chế độ, chính sách, trả lương, thưởng của doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động; tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ công nhân, người lao động ; phối hợp giải quyết 89 vụ tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể.

 Hội Nông dân: phát động phong trào thi đua “nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo” đạt được nhiều kết quả tích cực, bên cạnh đó, Hội đã tổ chức được 57 lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cây trồng vật nuôi phù hợp với quá trình đô thị hóa quận nhà; phối hợp giới thiệu việc làm, tổ chức các lớp dạy nghề cho thanh niên nông thôn góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo đúng định hướng dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp.

Đoàn TNCS HCM: chăm lo giáo dục lý tưởng, rèn luyện đạo đức cho thanh thiếu niên, tổ chức 229 đợt tuyên truyền về Đảng, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đoàn viên, hội viên, thanh niên bằng nhiều hình thức phong phú; tập huấn tư vấn kinh tế và giới thiệu việc làm cho thanh niên, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên, hội viên, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; phát động thực hiện tốt các ngày chủ nhật xanh, các chiến dịch tình nguyện; củng cố tổ chức đoàn cơ sở vững mạnh, đa dạng hóa các hình thức tập hợp thanh niên.

Hội Liên hiệp phụ nữ: tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nhất là đối với Luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em …góp phần làm chuyển biến nhận thức trong xã hội đối với phụ nữ; hỗ trợ, giúp đỡ hội viên có hoàn cảnh khó khăn, hộ phụ nữ nghèo, đơn thân phát triển kinh tế vươn lên thoát nghèo, xây dựng gia đình no ấm; phối hợp tổ chức đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, chăm sóc sức khỏe phụ nữ các giới; được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng III.

 Hội Cựu chiến binh: tập trung công tác giáo dục truyền thống cách mạng và ý nghĩa các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị cho đoàn viên, hội viên, thanh niên, thiếu nhi; tổ chức thực hiện phong trào Cựu chiến binh gương mẫu gắn với các cuộc vận động và các phong trào hành động cách mạng địa phương bằng nhiều hình thức; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền, Mặt trận và các Đoàn thể, qua đó thể hiện được vai trò là chỗ dựa tin cậy cho Đảng và chính quyền cơ sở.

Các tổ chức xã hội – nghề nghiệp: luôn tích cực và thực hiện tốt công tác khuyến học, chăm sóc sức khỏe nhân dân, xã hội nhân đạo với tổng số tiền trên 8 tỷ đồng.

Công tác tôn giáo, công tác dân tộc luôn được quan tâm. Công tác Tôn giáo những năm qua đạt kết quả tích cực: đồng bào có đạo, chức sắc tôn giáo tích cực hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đời sống mới, sống tốt đời đẹp đạo; tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo xây, sửa nơi thờ tự theo đúng quy định của pháp luật, cho đồng bào có đạo sinh hoạt tôn giáo. Công tác dân tộc được quan tâm thực hiện khá tốt bước đầu góp phần nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc, không còn hộ nghèo có thu nhập bình quân từ dưới 6 triệu/người/năm; việc miễn giảm học phí, học chữ, học nghề, chăm sóc sức khỏe và nhà ở được quan tâm giải quyết.

B. NHỮNG HẠN CHẾ - YẾU KÉM

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên vẫn còn một số hạn chế, yếu kém trên các lĩnh vực như sau:

1. Trên lĩnh vực kinh tế:

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế chủ yếu là tự phát, thiếu tính bền vững; việc chuyển đổi ngành nghề của nông dân sang các lĩnh vực Công nghiệp – Dịch vụ trong quá trình đô thị hóa còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các ngành dịch vụ buôn bán nhỏ; sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, sức cạnh tranh thấp, chưa tạo được thương hiệu cho sản phẩm.

Nguyên nhân:

Quận chưa xây dựng lộ trình cụ thể, giải pháp phù hợp trong hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng như trong mời gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém chưa thu hút được nhà đầu tư; tình trạng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp; Vai trò của các cơ quan chức năng trong hỗ trợ thúc đẩy sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận chưa rõ nét, nhất là trong ngành nông nghiệp, chưa có giải pháp trong việc hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm.

2. Công tác quản lý, phát triển đô thị:

Công tác lập và điều chỉnh quy hoạch còn chậm, thiếu chiều sâu, chưa đáp ứng kịp tốc độ đô thị hóa của quận; việc sử dụng vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản chưa đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra (tỷ lệ giải ngân 03 nguồn vốn bình quân đạt 75%/90% chỉ tiêu Nghị quyết); tiến độ các công trình, chương trình trọng điểm chưa đảm bảo, chưa khai thác sử dụng hiệu quả quỹ đất Nhà nước trực tiếp quản lý; tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước máy còn quá thấp so với chỉ tiêu Nghị quyết; tình hình vi phạm về trật tự xây dựng, mua bán lấn chiếm lòng lề đường vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp.

Nguyên nhân:

Đội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch còn thiếu và yếu về chuyên môn; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý đô thị còn hạn chế; việc phát triển mạng lưới cấp nước phụ thuộc vào Thành phố nên tỷ lệ hộ dân sử dụng nước máy đạt thấp.

 Năng lực điều hành quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản còn hạn chế, công tác giám sát đầu tư của quận chưa tốt; còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các phòng ban, cán bộ làm việc còn máy móc, thiếu linh hoạt.

 Việc phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị để thực hiện công tác quản lý trật tự đô thị chưa cao; lực lượng thanh tra xây dựng quận, phường chưa ngang tầm với nhiệm vụ, mặt khác ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn thấp.

3. Lĩnh vực văn hóa - xã hội:

 Chất lượng giáo dục vẫn còn có sự chênh lệch giữa các trường, chưa đảm bảo chỉ tiêu Nghị quyết về huy động trẻ trong độ tuổi đến trường ở bậc mầm non (nhà trẻ mới đạt 20,8%/30%), trường lớp chưa đáp ứng nhu cầu học tập, tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày giảm.

Chất lượng khám chữa bệnh chưa đảm bảo yêu cầu, trang thiết bị còn thiếu; công tác phòng bệnh chưa thật sự chủ động và có lúc có nơi chưa kịp thời, công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá – xã hội còn hạn chế.

Việc đầu tư khai thác các thiết chế văn hóa còn hạn chế, chưa đạt chỉ tiêu Nghị quyết về xây dựng phường văn hóa, khu phố văn hóa, chất lượng các khu phố văn hóa chưa cao; chưa đa dạng các loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ; công tác tuyên truyền cổ động chưa thật sự đổi mới về hình thức và phương pháp; hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh đô thị còn thấp; phong trào thể dục thể thao chưa có sự đầu tư đúng mức, nhất là hoạt động thể thao chuyên nghiệp.

Nguyên nhân:

Vai trò tham mưu của các cơ quan chuyên môn còn hạn chế, nhất là trong công tác quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực, trong chỉ đạo điều hành còn thiếu cương quyết; Sự phối hợp trong thực hiện các công trình trường học thiếu chặt chẽ và không đồng bộ.

Công tác quản lý của Bệnh viện chưa tốt; đội ngũ cán bộ y tế thiếu, trình độ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tinh thần, thái độ phục vụ của một số y bác sỹ chưa cao.  

Còn lúng túng trong chỉ đạo và xây dựng mô hình khu phố văn hóa; hạ tầng đường giao thông còn nhiều hạn chế, ý thức của một bộ phận người dân còn kém nên ảnh hưởng đến kết quả xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư và xây dựng nếp sống văn minh đô thị.

4. Lĩnh vực Quốc phòng - an ninh, hoạt động tư pháp:

Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc chưa thật sự đi vào chiều sâu; công tác xây dựng khu vực phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu vẫn còn những mặt hạn chế.

Tình hình khiếu kiện, đình lãn công vẫn còn xảy ra; số vụ phạm pháp hình sự và số vụ tai nạn giao thông có kéo giảm nhưng còn diễn biến phức tạp và tăng giảm qua từng năm; công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực an ninh trật tự, nhất là kinh doanh ngành nghề nhạy cảm đôi lúc còn hạn chế.

Vẫn còn án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán; công tác giải quyết khiếu kiện đôi lúc chưa đảm bảo thời gian quy định, tỷ lệ hòa giải thành chưa cao, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa sâu rộng.

Nguyên nhân:

Công tác phối kết hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể với các cơ quan Quân sự, Công an và các cơ quan tư pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ Quốc phòng - An ninh cải cách tư pháp chưa tốt; Tinh thần trách nhiệm và ý thức cảnh giác của một bộ phận người dân về phòng ngừa và tố giác tội phạm chưa cao; cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện làm việc một số cơ quan tư pháp chưa đảm bảo (nhất là tại TA, VKS); đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp còn thiếu, một số ít cán bộ chưa đáp ứng về trình độ, kỹ năng làm việc theo yêu cầu.

5. Hoạt động hệ thống chính trị 

5.1. Năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng

Công tác chính trị - tư tưởng: việc nắm bắt, phản ánh tâm tư, nguyện vọng cán bộ đảng viên của các Cấp ủy chưa kịp thời; công tác tuyên truyền miệng còn rất hạn chế; sự tự giác và ý thức đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực …của một số đảng viên chưa cao. Nguyên nhân: trong thực hiện công tác chính trị tư tưởng thiếu sự quan tâm kịp thời; nhận thức, lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ đảng viên còn hạn chế; lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên còn thiếu, yếu.

Công tác tổ chức cán bộ: còn một số hạn chế, công tác đào tạo chuẩn hóa cán bộ chưa đạt mục tiêu đề ra, còn trường hợp cán bộ chưa đạt chuẩn theo chức danh; đội ngũ cán bộ công chức quận, phường vẫn còn tình trạng vừa thừa, vừa thiếu; một số cán bộ lãnh đạo quản lý năng lực yếu, thiếu gương mẫu nên kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ không cao. Nguyên nhân: Một số Cấp ủy chưa tập trung để đầu tư nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi bộ, còn lúng túng trong tìm giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; trong đánh giá xếp loại tổ chức Đảng, đảng viên có nơi còn hình thức và nặng về thành tích; một số tổ chức Đảng chưa làm tốt công tác tạo nguồn kết nạp Đảng, chưa đảm bảo quy trình, thủ tục kết nạp đảng viên; chậm rà soát, bổ sung cán bộ vào quy hoạch; kinh phí đào tạo cán bộ của quận chưa đáp ứng yêu cầu.

Công tác kiểm tra, giám sát: một vài cấp ủy cơ sở chưa quan tâm đúng mức trong việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, còn giao khoán cho UBKT Đảng ủy; việc thực hiện công tác giám sát và kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm chưa thường xuyên nên không kịp thời phát hiện sai phạm của cán bộ, đảng viên mà chủ yếu được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nguyên nhân: còn một số cấp ủy chưa nhận thức đúng mức tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát; nhận thức về kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm còn nặng nề cho nên chỉ kiểm tra khi vấn đề đã nảy sinh phức tạp, làm hạn chế tác dụng ngăn ngừa; một số cấp ủy, người đứng đầu thiếu kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ công chức, nhất là thái độ quan liêu cửa quyền, sách nhiễu, thiếu trách nhiệm của một phận cán bộ công chức gây bức xúc người dân chưa được phát hiện xử lý kịp thời.

5.2. Hoạt động, hiệu lực quản lý nhà nước:

Năng lực điều hành, quản lý của UBND Quận, phường có lúc có nơi còn bộc lộ những hạn chế; vai trò tham mưu của một số phòng ban chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quận, thiếu chủ động; tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, kỷ cương hành chính của một bộ phận cán bộ công chức chưa cao, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong công việc giữa các phòng ban quận với nhau, giữa phòng ban với phường.

Trong công tác cải cách hành chính kết quả đạt được chưa rõ nét, chủ trương giảm hội họp chưa được thực hiện tốt, chất lượng các cuộc họp chưa được nâng cao; công tác giải quyết hồ sơ hành chính cho nhân dân còn hạn chế, tỷ lệ hồ sơ trễ hẹn còn khá cao chưa làm người dân hài lòng, nhất là hồ sơ liên quan lĩnh vực nhà, đất; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước chưa nhiều, tiến độ thực hiện và áp dụng quy trình thực hiện quản lý hành chính theo tiêu chuẩn ISO chậm so với chỉ tiêu Nghị quyết.

Nguyên nhân: Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, công chức viên chức thiếu năng động, sáng tạo, thiếu tinh thần dám làm dám chịu trách nhiệm; nhận thức về nội dung, vai trò của công tác cải cách hành chính ở một số cấp ủy, thủ trưởng đơn vị còn hạn chế; quy trình, thủ tục hành chính chưa được thường xuyên rà soát, chưa kịp thời mẫu hóa các loại biểu mẫu nên xảy ra tình trạng để tổ chức, công dân phải đi lại nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ.

5.3. Công tác vận động nhân dân:

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm túc, chưa đầy đủ, còn mang tính hình thức; công tác dân vận của chính quyền ở nhiều đơn vị còn yếu, một số vấn đề bức xúc của một bộ phận nhân dân chưa giải quyết kịp thời, đồng bộ và triệt để.

Hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa thật sự đi vào chiều sâu; vẫn còn biểu hiện hành chính hóa và bệnh thành tích trong hoạt động; việc thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và chính quyền còn một số hạn chế; xây dựng lực lượng nòng cốt phong trào, nòng cốt chính trị chưa đảm bảo yêu cầu đề ra, tỷ lệ tập hợp các tầng lớp nhân dân còn thấp.

Nguyên nhân: Một số Cấp ủy, cán bộ đảng viên chưa quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết 8B-NQ/TW ngày 27/03/1990 Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng khóa VI.

Việc thực hiện chế độ chính sách liên quan đến công tác đào tạo cán bộ, đặc biệt là cán bộ trẻ của khối đoàn thể còn nhiều hạn chế; cán bộ chủ chốt của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội thay đổi nhiều làm ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả hoạt động.

Sự phối hợp của các đơn vị liên quan với địa phương thiếu đồng bộ, phương thức và nội dung vận động nhân dân của các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa sát với các giai tầng trong xã hội.

C. MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÚT RA:

1. Luôn bám sát nghị quyết của đại hội để chỉ đạo tổ chức thực hiện, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và tiềm năng trong nhân dân để tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền, phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng cho việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết đại hội.

2. Thực hiện tốt công tác cán bộ, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt; chú trọng công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, đề bạt bố trí cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ kế thừa tại các đơn vị.

3. Thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng ở các Cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng; trong điều hành phải xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm rõ ràng, nâng cao tinh thần trách nhiệm là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho kết quả thực hiện Nghị quyết.

Phần thứ hai

Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển Quận nhiệm kỳ 2010 – 2015

A. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU CHUNG

Giai đoạn 2010 – 2015 là giai đoạn tăng tốc để đạt những thành tựu làm tiền đề phát triển quận trên các lĩnh vực. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ 2005 – 2010, sự chỉ đạo và hỗ trợ của Thành phố cùng với những lợi thế về vị trí địa lý, nguồn lực ... là những thuận lợi vô cùng quan trọng; hạ tầng kỹ thuật – xã hội chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, tăng dân số cơ học quá nhanh, vai trò quản lý nhà nước trên các lĩnh vực còn hạn chế... sẽ là những khó khăn, trở ngại cho quá trình phát triển của quận.

Trên cơ sở những thuận lợi, thách thức và yêu cầu phát triển quận trong năm năm tới, Đảng bộ xác định mục tiêu tổng quát là: Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “Dịch vụ - Công nghiệp – Nông nghiệp”; thực hiện tốt công tác quản lý đô thị, phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật – xã hội,  nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng - an ninh và hoạt động tư pháp, cơ bản xây dựng địa phương thành quận đô thị - văn minh; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể.         

B. NHIỆM VỤ CỤ THỂ

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG AN NINH, HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1. Khai thác tốt mọi tiềm năng, phát huy thế mạnh  để phát triển kinh tế

Xác định cơ cấu kinh tế tiếp tục là “Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp”;  phấn đấu đến năm 2015 tỉ trọng ngành dịch vụ chiếm từ 63-65%, ngành công nghiệp chiếm 34,5- 36,6%, nông nghiệp chiếm 0,4-0,5% trong tổng cơ cấu ngành kinh tế của quận.

Đẩy nhanh phát triển một số loại hình dịch vụ cao cấp như dịch vụ tài chính ngân hàng, y tế, giáo dục; trong đó ưu tiên mời gọi thực hiện dự án chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, củng cố và nâng cấp các chợ truyền thống đạt chuẩn văn minh thương nghiệp để hình thành hệ thống thương nghiệp một cách đồng bộ, tích cực đấu tranh chống đầu cơ tích trữ, buôn bán sản phẩm sai quy định; củng cố các ngành hàng truyền thống (may mặc, giày da), khuyến khích thu hút đầu tư các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ (tin học - điện tử), kiên quyết không cấp phép và có biện pháp xử lý nghiêm đối với các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường; duy trì và nâng chất lượng các sản phẩm nông nghiệp truyền thống cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao.

Thực hiện thu đúng, đủ, chống thất thu thuế, phấn đấu hàng năm thu ngân sách đạt và vượt từ 5% trở lên so với chỉ tiêu pháp lệnh; Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách để phát triển hạ tầng, huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển...

2. Thực hiện tốt công tác quản lý phát triển đô thị, tạo điều kiện cho quận sớm trở thành quận đô thị. 

Chú trọng công tác quy hoạch, trong đó nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị; đẩy nhanh tiến độ và hoàn chỉnh điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng, hoàn chỉnh quy hoạch ngành; Tăng cường công tác quản lý trật tự xây dựng, kéo giảm đến mức thấp nhất vụ việc vi phạm, giải quyết cơ bản các điểm mua bán tự phát, lấn chiếm lòng lề đường, nâng cao ý thức và hành động của nhân dân tham gia bảo vệ môi trường. Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án lớn như: bờ hữu sông Sài Gòn, Rạch Tham Lương - Bến cát, Cống Vàm Thuật, nhà máy xử lý nước thải…

Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, tập trung đầu tư hạ tầng giao thông, trường học, các công trình phòng chống lụt bão; phấn đấu nhựa hóa 100% các tuyến đường giao thông theo hiện trạng do quận quản lý, xây mới 572 phòng học; nâng cấp, sửa chữa trụ sở UBND 6 phường còn lại; tăng cường công tác quản lý hạ tầng, nhất là đối với các dự án đầu tư xây dựng chung cư, khu dân cư mới; tích cực và chủ động thực hiện mạng lưới cấp nước, phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ có 50% hộ dân sử dụng nước máy; đặc biệt chú trọng việc kêu gọi xã hội hóa đầu tư trên các lĩnh vực giao thông, y tế, giáo dục, thể dục thể thao …

Kiểm soát và hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, có lộ trình cụ thể để bảo vệ và phát triển môi trường tự nhiên, công viên cây xanh, ưu tiên phát triển các dự án về hạ tầng du lịch, môi trường sinh thái trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa tính truyền thống và không gian đô thị hiện đại.

3. Nâng chất các hoạt động văn hóa - xã hội góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần

Nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng môi trường sư phạm trong sáng, mẫu mực, chú trọng bồi dưỡng đạo đức giáo dục truyền thống cho học sinh. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên, đặc biệt là quan tâm đạo đức nghề nghiệp, đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hoá hiện đại hoá; Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 100%, đảm bảo 100% trẻ em trong độ tuổi tiểu học được đến trường, huy động 100% số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào trung học cơ sở; tiếp tục duy trì và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục bậc trung học; xây dựng xã hội học tập, khuyến học, khuyến tài, kiện toàn nâng cao chất lượng các Trung tâm học tập cộng đồng; Phấn đấu xây dựng thêm từ 1 – 2 trường đạt chuẩn Quốc gia.

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Thực hiện tốt công tác dân số, đảm bảo tỷ lệ cơ cấu phát triển dân số hợp lý, phấn đấu giữ tốc độ tăng dân số tự nhiên hàng năm dưới 1%; đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, chủ động thực hiện công tác phòng bệnh, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Đảm bảo 100% trạm y tế phường có Bác sỹ, phấn đấu đạt 20 cán bộ y tế/ 10.000 dân, 7 bác sỹ/10.000 dân.

Đầu tư và nâng chất các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao tập trung đầu tư nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa; đa dạng các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, trong đó chú trọng đẩy mạnh xã hội hóa; xây dựng nếp sống văn minh – mỹ quan đô thị đúng thực chất. Phấn đấu đến cuối năm 2015 đạt 27% tổng số dân tham gia tập luyện thể dục rèn luyện thân thể thường xuyên, đầu tư các môn thể thao mũi nhọn của quận (bóng đá, điền kinh, võ thuật); xây dựng 01 đến 2 phường văn hóa, phấn đấu 100% hộ đăng ký xây dựng gia đình văn hóa, trong đó có 80% hộ đạt chuẩn, có 90% công sở đạt chuẩn công sở văn minh sạch đẹp an toàn.  

Công tác chăm lo chính sách – xã hội: Tập trung chăm lo đời sống các diện chính sách, tiếp tục thực hiện các chế độ chính sách ưu đãi xã hội đảm bảo đúng đối tượng, nâng cao đời sống nhân dân; phấn đấu đến cuối năm 2014 quận cơ bản không còn hộ nghèo có mức thu nhập bình quân từ 12 triệu đồng/ người/ năm trở xuống, tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 0,5%; chú trọng nâng cao chất lượng dạy nghề, mở rộng các hình thức đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động đáp ứng nhu cầu tuyển dụng cho người lao động.

4. Đảm bảo quốc phòng an ninh, nâng cao chất lượng hoạt động các cơ quan tư pháp. Xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trong quần chúng nhân dân, đấu tranh phòng chống âm mưu diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Tăng cường công tác bồi dưỡng giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh trong hệ thống chính trị và rộng khắp trong nhân dân; đảm bảo công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm; tổ chức huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và tổ chức hội thao quốc phòng hàng năm đạt hiệu quả năm sau cao hơn năm trước, xây dựng lực lượng quân sự địa phương ngày càng vững mạnh toàn diện.

Kịp thời bổ sung các phương án chiến đấu, tổ chức diễn tập các phương án phòng thủ và phòng chống biểu tình gây rối, biểu tình bạo loạn và khủng bố; chủ động dự báo và tăng cường công tác nắm tình hình và xử lý kịp thời không để xảy ra tình huống bất ngờ liên quan đến tình hình an ninh chính trị. Tiếp tục thực hiện tốt chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, phát động và nâng chất phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, kiềm chế và kéo giảm số vụ phạm pháp hình sự, nâng tỷ lệ khám phá án hàng năm; tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực; đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phấn đấu kéo giảm số vụ, số người chết và số người bị thương hàng năm, không để xảy ra ùn tắc giao thông.

Tăng cường thực hiện công tác cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật, đảm bảo thực thi pháp luật nghiêm minh; tăng cường lãnh đạo của Cấp ủy Đảng, chính quyền đối với các cơ quan tư pháp; tiếp tục củng cố và nâng chất hoạt động cơ quan tư pháp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, về đội ngũ cán bộ. Đảm bảo thực hiện tốt các chỉ tiêu ngành cấp trên đề ra.

II. TIẾP TỤC XÂY DỰNG, KIỆN TOÀN VÀ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Tiếp tục củng cố, kiện toàn, đổi mới hoạt động nhằm xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; nâng cao năng lực điều hành và hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền, tăng cường trật tự kỷ cương trong bộ máy; phát huy dân chủ, tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng MTTQ và các đoàn thể vững mạnh..   

1. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị 

Tăng cường công tác chính trị - tư tưởng, giáo dục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước của nhân dân, nâng cao kết quả thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thực hiện tốt công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ đảng viên; chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc an ninh tư tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác tuyên giáo, chất lượng tuyên truyền; chủ động nắm bắt đánh giá, dự báo đúng tình hình diễn biến tư tưởng của đảng viên, các tầng lớp nhân dân và có những giải pháp tuyên truyền giáo dục phù hợp.

Tập trung lãnh đạo nâng chất cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đưa cuộc vận động đi vào chiều sâu và lan tỏa rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân bằng các việc làm theo cụ thể, thiết thực để góp phần xây dựng nền tảng đạo đức trong Đảng và cả xã hội; kịp thời biểu dương nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong việc “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tiếp tục kiện toàn nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên, đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao nhận thức và chất lượng công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên; gắn đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm với việc thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên” nhất là tăng cường việc phân công, quản lý và kiểm tra, giám sát đảng viên với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng; phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ có 80% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ, không có tổ chức cơ sở đảng yếu, kém.

Phấn đấu hàng năm có 100% đảng viên đủ tư cách, trong đó có từ 80% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ; làm tốt công tác tạo nguồn kết nạp Đảng, phấn đấu kết nạp từ 700 đảng viên, chú trọng trong lực lượng giáo viên, địa bàn dân cư và doanh nghiệp, đảm bảo cơ cấu hợp lý (70% đoàn viên thanh niên, 20% công nhân và người lao động trong doanh nghiệp, 40% nữ).

Tiếp tục kiện toàn hệ thống chính trị, thực hiện tốt công tác quản lý, đánh giá quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý và quy hoạch cán bộ dài hạn, đẩy mạnh việc đào tạo cán bộ cơ sở, tăng việc đưa cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn khá giỏi về phường công tác để rèn luyện thực tiễn, tạo nguồn kế thừa; Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đạt chuẩn quy định.  

Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chống mọi biểu hiện cơ hội bè phái gây mất đoàn kết nội bộ. 

Thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện và ngăn ngừa các sai phạm. Đề cao vai trò của Cấp ủy cơ sở trong việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Chú trọng kiểm tra: việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, quy định, nghị quyết, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, nhất là trong lĩnh vực đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, thu, chi ngân sách, các nguồn quỹ vận động từ nhân dân…; tăng cường giám sát việc thực hiện cải cách hành chính, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên.

Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của tổ chức đảng và UBKT cấp dưới, kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng, kịp thời giải quyết các đơn thư khiếu nại – tố cáo liên quan đến cán bộ đảng viên. Công tác thi hành kỷ luật đảm bảo công minh, chính xác, kịp thời.

Quan tâm củng cố kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra giám sát và thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. 

2. Xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, giữ nghiêm trật tự kỷ cương trong bộ máy

Điều chỉnh, bổ sung và tổ chức thực hiện tốt quy chế hoạt động của UBND quận, phường và các cơ quan chuyên môn, đơn vị, sự nghiệp. Tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao vai trò tham mưu thực hiện nhiệm vụ của các phòng ban, năng lực điều hành của chính quyền quận - phường; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng công tác, giáo dục đạo đức; tăng cường đi cơ sở, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở; xây dựng và thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội để xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu quả.

Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; thực hiện tốt công tác thanh tra phòng ngừa, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật các biểu hiện, hành vi tiêu cực, quan liêu tham nhũng; kịp thời giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo, đơn dân nguyện của công dân đúng theo thẩm quyền và quy định pháp luật; giữ nghiêm trật tự kỷ cương trong thi hành công vụ, xử lý kiên quyết tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và công việc, gây phiền hà nhân dân.   

Đẩy mạnh cải cách hành chính, chọn khâu đột phá là hồ sơ hành chính lĩnh vực nhà đất, tiếp tục rà soát và hoàn chỉnh quy trình giải quyết hồ sơ hành chính theo hướng rút ngắn thời gian giải quyết và đơn giản hoá thủ tục; trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hành chính nhà nước.

3. Nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng, phát huy dân chủ, động viên đông đảo các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng, phát triển quận 

Thực hiện tốt công tác tôn giáo – dân tộc, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng thông qua việc nhân dân góp ý cho Đảng, kiểm tra giám sát tổ chức Đảng, đảng viên, giới thiệu quần chúng ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp và tích cực thực hiện các chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phong trào thi đua dân vận khéo, gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong các cơ quan, đơn vị, địa phương bằng nhiều hình thức phù hợp, tập hợp, động viên mọi tầng lớp nhân dân phát huy mọi nguồn lực xã hội để thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội.

Mặt trận Tổ quốc: Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm tốt công tác giám sát, phản biện xã hội, đa dạng các hình thức tập hợp để Mặt trận thật sự là chỗ dựa tin cậy của Đảng, cơ sở chính trị của Chính quyền và là nơi đại diện ý chí nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

Liên đoàn lao động: Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị và tạo mọi điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật cho người lao động; củng cố xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ công đoàn có bản lĩnh chính trị, kỹ năng hoạt động; nâng cao tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong việc chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động.

Hội Nông dân: đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW (khoá X) về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; định hướng chuyển đổi cây trồng vật nuôi, xây dựng các mô hình sản xuất - dịch vụ nông nghiệp có giá trị kinh tế cao phù hợp với quá trình đô thị hoá và từng bước xây dựng đời sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.    

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống đẹp và nâng cao trách nhiệm công dân trong thanh thiếu niên; phát huy tính xung kích tình nguyện của thanh niên; nâng cao chất lượng hoạt động đoàn viên, tổ chức Đoàn.

Hội Liên hiệp Phụ nữ: củng cố tổ chức Hội thật sự vững mạnh, phát huy vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ các giới; xây dựng hình ảnh người phụ nữ Quận 12 có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu góp phần xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.

Hội Cựu chiến binh: tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội cụ Hồ”, nêu gương và tăng cường công tác giáo dục bồi dưỡng truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ; nâng cao chất lượng hoạt động, xây dựng tổ chức Hội trong sạch vững mạnh, luôn xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của Đảng, chính quyền. 

Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp: thực hiện tốt chức năng tập hợp, hỗ trợ chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của hội viên.

III. CÁC CHƯƠNG TRÌNH, CÔNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM 

1. Các chương trình, công trình nối tiếp Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ III

1. Chương trình tiếp tục thực hiện xây dựng trường học mới ở các bậc học giai đoạn 2010 – 2015.

2. Công trình Trung tâm Thể dục – thể thao đa năng, khoảng 5,3 ha (giai đoạn 1 của Dự án Công viên văn hoá thể dục thể thao Quận).

2. Các Chương trình mới

1. Chương trình kêu gọi đầu tư phát triển hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, chợ theo quy hoạch và các trục động lực.

2. Chương trình bê tông hoá, nhựa hóa theo quy hoạch và hiện trạng các tuyến đường giao thông do quận quản lý; xây dựng bờ bao phòng chống triều cường và bờ bao kết hợp giao thông nông thôn giai đoạn 2010 – 2015.

3. Chương trình cải cách hành chính, trong đó tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức quận, phường và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước.

C. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP

I. GIẢI PHÁP CHUNG:

Tiếp tục phát huy các bài học kinh nghiệm của nhiệm kỳ III, tranh thủ và tổ chức thực hiện tốt sự lãnh đạo chỉ đạo và hỗ trợ của Thành phố; phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, chú trọng tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nâng cao năng lực điều hành quản lý của chính quyền, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vừa có đạo đức cách mạng vừa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tạo mọi điều kiện để Mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng, phát triển quận.

II. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CỤ THỂ

1. Nhóm giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 

Triển khai các kênh thông tin với nhiều nội dung cần thiết để giới thiệu, quảng bá và mời gọi đầu tư; Tạo mọi thuận lợi cho công dân, tổ chức khi đến quận tìm hiểu môi trường đầu tư; Đẩy mạnh xã hội hóa trên lĩnh vực phát triển văn hóa - xã hội.

Huy động tối đa các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chú trọng việc xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng các nguồn vốn, nhất là nguồn thu thuế và nguồn từ quỹ đất Nhà nước trực tiếp quản lý, nguồn lực trong nhân dân để xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; Quản lý chặt chẽ các dự án đầu tư, công khai minh bạch trong đấu thầu, chọn thầu và kiên quyết xử lý các đơn vị sai phạm.

Thường xuyên và chủ động phối hợp với các Sở – Ngành và các đơn vị liên quan của thành phố để kịp thời hỗ trợ thực hiện các mục tiêu Nghị quyết.

2. Nhóm giải pháp đảm bảo Quốc phòng an ninh, hoạt động tư pháp:

Tập trung xây dựng lực lượng Công an-quân sự trong sạch vững mạnh toàn diện, sẵn sàng cơ động cao. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nắm chắc tình hình trên địa bàn, duy trì và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung khoá IX về “chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị “về tăng cường lãnh đạo công tác đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới”, chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và Nghị quyết 32/NQ-CP của Chính phủ về thực hiện các biện pháp kéo giảm tai nạn giao thông; tập trung củng cố và nâng cao vai trò lực lượng ANCS, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ tham gia giữ gìn ANTT, mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, chuyển hóa địa bàn, tụ điểm phức tạp, quản lý giữ vững địa bàn đã chuyển hóa và đối tượng.

Tập trung củng cố kiện toàn nhân sự, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao hiệu quả công tác điều tra truy tố, xét xử, thi hành án; trang bị phương tiện đảm bảo cơ sở vật chất để phục vụ tốt yêu cầu công tác; thực hiện tốt phối hợp trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng pháp luật, phục vụ cho công tác phòng chống tội phạm.

3. Nhóm giải pháp xây dựng hệ thống chính trị

3.1. Xây dựng Đảng:

Đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng thông qua việc nâng cao chất lượng và tính khả thi các Nghị quyết, Chương trình kế hoạch thực hiện của các Cấp ủy Đảng; đổi mới phong cách lãnh đạo trên cơ sở xây dựng theo phong cách Hồ Chí Minh nhất là: phong cách tư duy, phong cách làm việc; thường xuyên định hướng công tác tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên.

Quán triệt và thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng ở các Cấp ủy, tổ chức Đảng; Xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất luợng đảng viên trên cơ sở thực hiện tốt Nghị quyết 15-NQ/TW và Nghị quyết 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Kế hoạch số 65-KH/QU của Quận ủy “về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên”.

Xây dựng đội ngũ cán bộ đảm bảo các yêu cầu về phẩm chất đạo đức, năng lực theo quan điểm của Hồ Chí Minh; Làm tốt công tác cán bộ, nhất là trong việc đánh giá, lựa chọn, bố trí, đề bạt cán bộ.

Đổi mới phương pháp lãnh đạo thông qua việc thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra giám sát; Thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí

3.2. Xây dựng Chính quyền:

Xây dựng và thực hiện quy trình về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, kỷ luật công chức viên chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Vận dụng tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng trong việc xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của UBND và các phòng, ban chức năng.

3.3. Đổi mới nội dung hoạt động và nâng cao vai trò của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các hội quần chúng để tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân:

Quán triệt để cán bộ đảng viên nhận thức được công tác vận động quần chúng là công tác của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; Tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp giữa Đảng, chính quyền với nhân dân theo định kỳ và đột xuất, kịp thời giải quyết vấn đề liên quan đến cuộc sống người dân, nắm chắc tình hình tư tưởng, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở và các quy ước trong cộng đồng dân cư; Phát hiện, biểu dương khen thưởng và nhân rộng các nhân tố, gương điển hình trong các phong trào, các cuộc vận động

Xây dựng Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể vững mạnh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó chú ý thực hiện việc đổi mới phương thức hoạt động theo Kết luận số 62-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương; nâng cao chất lượng đoàn viên, hội viên theo Chỉ thị 18-CT/TU của Thành ủy và nâng cao vai trò giám sát, phản biện xã hội, kịp thời nắm bắt và phản ảnh tâm trạng dư luận xã hội cho các Cấp ủy Đảng, Chính quyền.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ IV có ý nghĩa rất quan trọng trên cơ sở ý thức sâu sắc về trách nhiệm đối với nhiệm vụ phát triển Quận trong những năm tới, đòi hỏi sự tập trung mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu Nghị quyết. Đảng bộ Quận tin tưởng với truyền thống cách mạng của quê hương chiến khu An Phú Đông - Vườn cau đỏ, tinh thần đoàn kết, sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nắm bắt cơ hội, khắc phục khó khăn vượt qua mọi thách thức thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, xây dựng Quận 12 trở thành quận đô thị - văn minh - hiện đại – nghĩa tình, xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”.

Thông báo