Thứ Tư, ngày 29 tháng 3 năm 2023

Báo cáo của UBND Quận 3 về tình hình kinh tế xã hội Quận 3 từ 1996 - 2000 và định hướng kế hoạch phát triển giai đoạn 2001-2005

Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI QUẬN 1996 - 2000

Quận 3 là một trong những quận nội đô của Thành phố, mang tính đặc trưng của một Quận hành chánh, hoạt động kinh tế chủ yếu là thương mại - dịch vụ, văn phòng giao dịch của các cơ quan đơn vị trong ngoài nước. Là một Quận có thế mạnh về cơ sở vật chất giáo dục - văn hoá và là địa bàn trọng điểm bảo vệ.

Năm năm qua, Quận 3 đã trãi qua những khó khăn thử thách gay gắt, đặc biệt trên lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế qua sự đổ vỡ của một số doanh nghiệp thuộc quận quản lý hoặc có vốn của ngân sách quận. Tuy nhiên bên cạnh đó quận đã tạo được những tiền đề quan trọng cho sự phát triển những năm tiếp theo : đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều chương trình xã hội được thực hiện đem lại kết quả thiết thực, nhất là qua thực hiện chương trình cải tạo kênh rạch Bùng Binh - Nhiêu Lộc, nhiều nhân tố mới được phát huy, an ninh chính trị ổn định, hệ thống chính trị được củng cố, chương trình cải cách hành chánh và phát huy qui chế dân chủ cơ sở, bước đầu đã có những chuyển biến, củng cố niềm tin trong nhân dân.

I.- TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ :

Định hướng phát triển kinh tế của quận trong những năm qua đã được Đại hội Đảng bộ Quận lần thứ VII khẳng định là thúc đẩy sự chuyển dịch kinh tế quận theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá với cơ cấu dịch vụ - thương mại - công nghiệp tiểu thủ công nghiệp.

Thực hiện định hướng trên, trong những năm qua, quận tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi trong phạm vi chức năng (như cải cách thủ tục hành chánh, tạo hành lang pháp lý, môi trường hoạt động…) để phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển theo định hướng và qui hoạch của quận.

1/ Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế Đại hội VII đề ra :

- Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn quận ngày càng phát triển. Năm 1995 có 8.885 cơ sở, trong đó có 388 doanh nghiệp, đến nay 2000 có 10.124 cơ sở, trong đó có 637 doanh nghiệp, 9.487 hộ kinh doanh cá thể. Tăng 1.239 cơ sở (doanh nghiệp tăng 249 cơ sở, tỉ lệ tăng 64%, cá thể tăng 990 hộ, tỉ lệ tăng 11,6%).

Doanh số thương mại dịch vụ 5 năm qua tăng đều qua các năm, năm 1995 là 3.703,6 tỉ đồng, đến năm 2000 là 6.161,7 tỉ đồng, nhịp độ phát triển 2000/1995 tăng 66,4%. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoạn 1995 - 2000 là 10,7% (Nghị quyết : tăng 25 – 30%). Nếu tính phần giá trị tăng thêm thì ngành Dịch vụ Thương mại năm 1995 đóng góp được 466 tỉ đồng, đến năm 2000 đóng góp được 823,5 tỉ đồng, tăng 76%.

Điểm đáng lưu ý là trong cơ chế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thuộc quận thu hẹp dần, từ 528,8 tỉ đồng doanh số năm 1995 đến nay chỉ còn 185,2 tỉ đồng. Trong lúc đó, khu vực kinh tế HTX và các thành phần kinh tế khác có sự phát triển. Doanh số thương nghiệp HTX tăng đều qua các năm : 51,6 tỉ (1995); 59,3 tỉ (1996); 82 tỉ (1997); 108,5 tỉ (1998); 117,8 tỉ (1999); 185,2 tỉ (2000), tuy vẫn còn chiếm một tỉ lệ khiêm tốn trong tổng doanh số Thương mại - Dịch vụ toàn quận, nhưng cũng đã có những chuyển biến khởi sắc qua thực hiện chủ trương quan tâm phát triển kinh tế hợp tác. Các Công ty cổ phần và Công ty TNHH và DNTN tăng nhanh từ 373 cơ sở (năm 1995) lên 623 (năm 2000) với doanh số 5.130 tỉ đồng/6.161 tỉ đồng tổng doanh thu toàn ngành thương mại - dịch vụ, chiếm tỉ trọng 83%.

- Hoạt động sản xuất Công nghiệp - TTCN, tuy số cơ sở có tăng (năm 1995 là 726, năm 2000 là 798 cơ sở) nhưng giá trị sản xuất có sự sụt giảm (trong 3 năm đầu), từ 1.034,1 tỉ đồng năm 1995 xuống còn 574,3 tỉ đồng năm 1998, trong 2 năm 1999 - 2000 có sự tăng trưởng trở lại :

* Năm 1999 là 640,8 tỉ, tăng 11% so năm 1998.

* Năm 2000 là 779,3 tỉ, tăng 14% so năm 1999.

Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoạn 1995 - 2000 của khu vực sản xuất Công nghiệp & TTCN giảm 5,5% (Nghị quyết : tăng 18 –20%)

Số giảm chủ yếu ở các doanh nghiệp (quốc doanh cũng như ngoài quốc doanh). Nguyên nhân giảm ngoài sự cạnh tranh gay gắt của hàng ngoại nhập lậu làm cho các đơn vị sản xuất trong nước khó phát triển được, mặt khác để đảm bảo môi sinh môi trường, các hoạt động sản xuất được khuyến khích chuyển phân xưởng ra ngoại thành, chỉ giữ lại văn phòng tại quận.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu : năm 1995 : 212 triệu USD, năm 2000 : 122 triệu USD, giảm 42%. Tính chung bình quân 5 năm qua, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giảm 10,4% (Nghị quyết : nhịp độ tăng bình quân 10 - 12%), trong đó kim ngạch xuất khẩu từ 72 triệu USD năm 1995 giảm còn 46 triệu USD năm 2000 (giảm bình quân 8,6% năm).

Điều này cho thấy trong 5 năm qua, hoạt động kinh tế của quận có nhiều khó khăn, có những chỉ tiêu không đạt theo như Nghị quyết Đại hội VII của quận đề ra.

2/ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận : trong 5 năm qua thể hiện khá rõ nét, đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận lần thứ VII. Các cơ sở hoạt động sản xuất gây ảnh hưởng môi sinh, môi trường được chuyển dần ra ngoại thành, đồng thời quận khuyến khích phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại, ngân hàng, hội sở văn phòng…

Qua số liệu 5 năm qua cho thấy số cơ sở hoạt động trên lĩnh vực thương mại - dịch vụ tăng nhanh và nhiều hơn so với các cơ sở sản xuất.

Về cơ cấu ngành hàng, chủ yếu vẫn là hoạt động thương mại (doanh số năm 2000 là 4.963 tỉ/6.161 tỉ, chiếm tỉ trọng 80,5%), kế đến là tài chánh ngân hàng (doanh số năm 2000 là 551 tỉ/6.161, chiếm tỉ trọng 8,94%). Nếu phân tích theo giá trị tăng thêm cho xã hội trong cơ cấu hoạt động kinh tế trên địa bàn quận, thì Công nghiệp & xây dựng chiếm 21,5%, Dịch vụ Thương mại chiếm 78,5% (trong đó hoạt động thương mại 32,6%, dịch vụ đại lý, quảng cáo, thiết kế, tư vấn chiếm 23,2%, ngân hàng 12,5%, khách sạn và nhà hàng 7%). Những năm gần đây hoạt động kinh doanh ăn uống, nhà hàng phát triển khá nhanh trên địa bàn quận, một phần do đặc điểm địa bàn quận có những mặt bằng phù hợp kinh doanh ngành hàng này, nhưng đây cũng là vấn đề đặt ra cho quận trong công tác quản lý nhằm tránh những biến tướng vi phạm Chỉ thị 814/TTg. Qua cơ cấu trên cũng cho thấy xu thế phát triển của các loại hình dịch vụ tư vấn, chuyển giao công nghệ, thiết kế, đặc biệt một Trung tâm công nghệ phần mềm với 25 doanh nghiệp trên địa bàn quận vừa mới thành lập đi vào hoạt động sẽ góp thêm 1 hướng phát triển mới.

3/ Công tác quản lý nhà nước về kinh tế trên địa bàn quận :

- Nhằm tạo điều kiện cho các nhà doanh nghiệp, các hộ kinh doanh tìm hiểu tiềm năng nhu cầu phát triển của quận, qua đó phát huy nội lực, mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh, quận đã tiến hành thành lập Văn phòng Thông tin Kinh tế quận, đồng thời xây dựng đề án quy hoạch phát triển kinh tế trên địa bàn quận theo định hướng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận, chủ động thực hiện cải tiến thủ tục hành chánh trên lĩnh vực cấp phép kinh doanh đối với cá nhân và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66/HĐBT trước khi có Nghị định 02/CP về đăng ký kinh doanh.

- Thực hiện Chỉ thị 20/TTg ngày 21/4/1988 của Thủ Tướng Chính phủ, quận đã tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước thuộc quận, chuyển 3 doanh nghiệp chuyên ngành về Thành phố quản lý, sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ có cùng ngành nghề tương quan, đã tiến hành cổ phần hoá 3 doanh nghiệp đủ điều kiện (Công ty Tân Định, Công ty Dược phẩm, Công ty Dịch vụ Du lịch), đang tiếp tục cổ phần hoá Công ty Thương mại Dịch vụ (sau khi đã sáp nhập Công ty Văn hoá Tổng hợp). Phối hợp với các ngành chức năng Thành phố xử lý những tồn tại ở các doanh nghiệp hoạt động thua lỗ : Xí nghiệp May xuất khẩu, Xí nghiệp Thủ công Mỹ nghệ, Công ty Thương mại Vật tư, Công ty Trilimex. Tiến hành sáp nhập 2 doanh nghiệp công ích (Công ty CTGT Đô thị và Xí nghiệp QL & PT Nhà Quận) thành Công ty Dịch vụ Công ích Quận 3.

- Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế hợp tác, quận đã hoàn thành việc chuyển đổi các HTX theo Luật HTX, tiến hành đăng ký lại hoạt động theo Nghị định 16/CP cho 18 HTX và thành lập mới 2 HTX (1 HTX về vận chuyển bốc xếp và 1 HTX dịch vụ hỗ trợ trang trại). Sau thực hiện chuyển đổi, các HTX đã chủ động tìm hướng phát triển, khai thác hiệu quả mặt bằng sẵn có, huy động thêm nguồn vốn…. phát huy được hiệu quả kinh doanh.

- Trên địa bàn quận có 04 chợ loại 2 với hơn 2.500 hộ kinh doanh, trong nhiệm kỳ qua, quận đã tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức, hoạt động các Ban Quản lý chợ, đầu tư nâng cấp chợ Bùi Phát (kinh phí 525 triệu đồng).

- Tập trung chỉ đạo công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại, tăng cường công tác giám sát. Nhà nước trên lĩnh vực kinh doanh thương mại - dịch vụ, nhất là các hoạt động khách sạn, nhà hàng kinh doanh ăn uống, phòng ngừa đấu tranh chống các tệ nạn xã hội.

Trong năm năm qua, trên lĩnh vực kinh tế còn một số tồn tại hạn chế sau :

- Quản lý Nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, vừa chưa phát huy đúng mức mặt tích cực, vừa chưa hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Một mặt do cơ chế quản lý, việc phân công phân cấp và các chính sách quản lý đối với các thành phần kinh tế chưa cụ thể, rõ ràng, nhưng mặt khác do năng lực và nhận thức sai lệch trong phương pháp, biện pháp quản lý, vai trò của nhà nước trong quản lý doanh nghiệp đã dẫn đến những hậu quả to tát qua sự đỗ vỡ của một số doanh nghiệp kéo theo vai trò trách nhiệm một số cán bộ của quận. Những hệ quả, tồn tại đó đến nay vẫn chậm được giải quyết do liên quan nhiều vấn đề, có những việc phải xin ý kiến của Thành phố.

- Trong nhiệm kỳ qua, quận đã xác định đúng định hướng phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm của quận, đã hoàn thành việc xây dựng đề án qui hoạch kinh tế quận, vấn đề đặt ra là tổ chức thực hiện cho có kết quả. Thực tế hiện nay phát triển kinh tế vẫn còn mang tính tự phát, kinh tế quốc doanh đang trong giai đoạn củng cố sắp xếp lại nên chưa phát huy hiệu quả, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh nhưng thiếu sự hướng dẫn, quản lý, thể hiện rõ tính chất tự phát "buôn có bạn, bán có phường" chạy theo một số ngành hàng mang lợi ích trước mắt. Tình trạng buôn bán lấn chiếm lòng lề đường chưa có biện pháp giải quyết căn cơ, có hiệu quả.

- Qua công tác kiểm tra cho thấy việc chấp hành các qui định quản lý của nhà nước ở các hộ kinh doanh vẫn chưa nghiêm, chưa triệt để. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế… vẫn chưa có biện pháp quản lý chặt chẽ.

- Công tác sắp xếp doanh nghiệp theo chỉ đạo của trên thực hiện đúng kế hoạch đề ra nhưng tiến độ cổ phần hoá doanh nghiệp có chậm hơn so với dự tính, do nội bộ các doanh nghiệp có những vướng mắc, phải tốn công sức, thời gian giải quyết.

II.- VỀ NGÂN SÁCH - TÀI CHÍNH :

1/ Qua phát triển kinh tế, trong 5 năm qua quận đã đẩy mạnh công tác quản lý thu ngân sách, khai thác các nguồn thu, tăng cường kiểm tra thuế và doanh thu, đẩy mạnh công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại, thực hiện các chủ trương về khoán thuế hộ nhỏ, dán tem hàng nhập khẩu… Kết quả, hàng năm quận đều hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch thu ngân sách Thành phố giao.

Công tác dự toán, quyết toán thu chi ngân sách được thực hiện đầy đủ, đúng qui định của Luật ngân sách. Chi ngân sách trên tinh thần tiết kiệm, giành khoản lớn ngân sách cho đầu tư phát triển cơ sở vật chất, công trình phúc lợi công cộng, đô thị, sửa chữa xây dựng trường học…

2/ Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về ngân sách :

* Tổng thu ngân sách nhà nước (kể cả Quận & Thành phố thu trên địa bàn quận) tăng đều hàng năm : 166,2 tỷ đồng (1995); 259,2 tỷ đồng (1996); 363,2 tỷ đồng (1999); 388,5 tỷ đồng (2000). Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 18,5% (Nghị quyết 12 - 13%).

* Tổng chi ngân sách hàng năm vẫn ở mức 50 - 55 tỷ đồng/năm (trừ 2 năm 1997, 1998 là 27 và 29 tỷ đồng, do nguồn chi cho sự nghiệp giáo dục & y tế chuyển về Thành phố).

Mức chi ngân sách hàng năm của quận hầu như không tăng (nhịp độ tăng bình quân giai đoạn 1995 - 2000 là 0,8%), vừa phải đảm bảo tiết giảm 5% theo qui định đây là một vấn đề khó khăn đặt ra cho quận trong lúc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận ngày một cao hơn.

III.- VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ :

1/ Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng, nhà đất, công trình đô thị :

Là một quận thuộc khu vực trung tâm của Thành phố, diện tích hẹp (đứng thứ 10/12 quận nội thành) nhưng mật độ dân cư cao (đứng thứ 3 trong toàn Thành phố), do đó nhu cầu phát triển đô thị và công tác quản lý đô thị đặt ra nhiều vấn đề bức xúc.

Theo đà phát triển chung của Thành phố, bộ mặt đô thị quận ngày một thay đổi, trong năm qua, nhiều công trình xây dựng, phúc lợi công cộng, các khu dân cư mới được quận tập trung chỉ đạo, đầu tư xây dựng. Hầu hết các hẽm lớn nhỏ trên địa bàn quận được đầu tư cải tạo, bê tông hoá hoặc tráng nhựa (5 năm qua đã duy tu nâng cấp 244 hẽm với tổng kinh phí 14,2 tỉ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 2,5 tỉ). Trong khu vực nhân dân, nhiều nhà cửa được tu sửa, xây dựng mới đã góp phần cho mỹ quan đô thị.

Trong 5 năm qua thực hiện các Nghị định 36/CP, 39/CP, 48/CP về lập lại trật tự đô thị, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và trật tự xây dựng đã có những cố gắng, nhưng trước một thực trạng dân cư quá đông đúc cộng với dân từ các nơi đổ về tạm cư sinh sống đã tạo một áp lực khá nặng. Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao, lực lượng quản lý của các cơ quan chức năng còn yếu, thiếu kiên quyết nên sau từng đợt ra quân giải toả xử lý, tình trạng tái chiếm lòng lề đường kinh doanh buôn bán, xây dựng lấn chiếm trái phép lại xuất hiện trở lại (riêng về Nghị định 39/CP, quận đã hoàn thành công tác giải toả 116 căn hộ vi phạm hành lang an toàn giao thông đường sắt).

2/ Trọng tâm trong 5 năm qua là thực hiện chương trình giải toả điều chuyển nhà ở trên và ven kênh rạch Nhiêu Lộc - rạch Bùng Binh, giải toả các khu vực nhà ở lụp xụp, xây dựng các khu dân cư mới.

* Thực hiện chương trình cải tạo tuyến rạch Bùng Binh quận đã giải toả 316 căn (gồm 320 hộ) bàn giao cho đơn vị thi công hạ tầng cơ sở.

* Chương trình giải toả kênh Nhiêu Lộc ở vào giai đoạn cuối, xử lý một vài công trình xây dựng còn lại. Đã giải toả di dời 2.490 căn hộ gồm 1.198 căn tuyến lòng kênh, 1.292 tuyến kỹ thuật. Tái bố trí dân tại 9 chung cư với 1.682 căn hộ (trong quận 410 căn, ngoài quận 1.272 căn).

Qua thực hiện 2 chương trình trên, đã hình thành thêm các tuyến giao thông mới qua các phường 7, 8, 9, 11, 12, 13, 14. Xây dựng được 2 chung cư mới trên địa bàn quận (Trần Quốc Thảo phường 9 và Trần Quang Diệu phường 13), nhà cửa, cảnh quan đô thị trong khu vực đã trở nên khang trang, sạch đẹp hơn, cuộc sống nhân dân được cải thiện, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường.

3/ Chương trình xây dựng nhà phục vụ nhu cầu nhà ở từ nguồn quỹ phát triển nhà, đã thực hiện 251 căn : chung cư Lý Thái Tổ 100 căn, chung cư 16/9 Kỳ Đồng 151 căn (Đối với chung cư 16/9 Kỳ Đồng, Thành phố đã điều chỉnh lại mục đích sử dụng, giành phục vụ cho chương trình Nhiêu Lộc - Thị Nghè). Hiện quận đang tiến hành dự án đầu tư xây dựng lô C chung cư Lý Thái Tổ.

4/ Những công trình xây dựng cơ bản trong 5 năm qua :

- Những công trình xây dựng đã được thực hiện theo Nghị quyết đề ra : xây dựng Trường Dạy nghề Nhân đạo, Trung tâm Văn hoá Quận, cải tạo mở rộng đường vào cầu Trần Quang Diệu.

- Ngoài những công trình ghi trong nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận, do nhu cầu thực tế, nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình đã được quận tổ chức thực hiện. Cụ thể như : Trường Mầm Non Tuổi Thơ 7, Trường Tiểu học Kỳ Đồng, Trường Tiểu học Trần Quốc Thảo, trụ sở Viện Kiểm sát Nhân dân Quận, trụ sở Công an Quận, Câu Lạc bộ Hưu trí, Trường Mầm Non 8, Trường Mầm Non 11, trụ sở UBND Phường 3, cải tạo nâng cấp Trung tâm Y tế Quận, Đài Liệt sĩ Quận.

Đã khởi công xây dựng nâng cấp Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên quận, rạp Nam Quang.

Một số dự án khác đang được tiến hành thủ tục đầu tư xây dựng như : Trường Nguyễn Thị Diệu, Trường Nguyễn Thái Sơn, Trường Phan Đình Phùng, Trường Colette, Trường Công nhân Kỹ thuật Nhân đạo (giai đoạn 2), Trường Trần Minh Quyền, Trường Tân Việt, Trường Bồi dưỡng Giáo dục, Trường Đô Lương… Nhìn chung trong 5 năm qua, quận đã tập trung khai thác sử dụng tốt các nguồn vốn đầu tư XDCB, tiến hành khá nhiều công trình phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế & xã hội của quận, phần lớn được đầu tư vào các công trình phúc lợi giáo dục, y tế, văn hoá xã hội.

- Những dự án công trình chưa thực hiện được theo Nghị quyết Đại hội VII đề ra: xây dựng Câu Lạc bộ Hồ Xuân Hương (chưa có nguồn kinh phí), Trung tâm Thương mại Dịch vụ Chợ Đũi (còn vướng mặt bằng Ngân hàng Đại Nam), khu Dịch vụ Văn phòng 03 Võ Văn Tần (hiện dự án thuộc Thành phố quản lý), 101 Trần Quốc Thảo (do nằm trong vụ án), cụm văn hoá TDTT tại khu vực giải toả kênh Nhiêu Lộc (do Thành phố thay đổi qui hoạch, không thực hiện giải toả biên chỉnh trang).

IV.- VỀ VĂN HOÁ XÃ HỘI :

Nhận thức được tầm quan trọng trong lĩnh vực văn hoá - xã hội, 5 năm qua quận tập trung lãnh đạo thực hiện xuyên suốt quan điểm “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, với tiến bộ công bằng xã hội". Nhiều chương trình, dự án đầu tư trên lĩnh vực văn hoà xã hội được thực hiện, mang lại kết quả thiết thực đã tác động tích cực đến các lĩnh vực khác.

1/ Về Giáo dục - Đào tạo : Thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương 2, sự nghiệp giáo dục được quận chú trọng, đầu tư khá toàn diện, nhiều cơ sở trường lớp được xây dựng, mở rộng thêm, cải tạo sửa chữa, chất lượng giáo dục đào tạo được củng cố, đa dạng hoá trường lớp thực hiện xã hội hoá giáo dục, đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục, nâng cao mặt bằng dân trí. Năm 1994 quận đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia hoàn thành công tác xoá mù chữ, năm 1997 được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổiđến 1998 tiếp tục được công nhận hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trước hạn định ở 14/14 phường (Nghị quyết Đại hội VII Quận là phấn đấu đến 2000 có 10/14 phường đạt). Tỷ lệ huy động học sinh ở bậc tiểu học là trên 99%, cấp 2 là 75- 80%, trên 90% trẻ em 5 tuổi vào lớp mẫu giáo. Số học sinh giỏivà khá ở bậc tiểu học chiếm 87%,bậc trung học cơ sở chiếm 62%. Tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học hàng năm đều trên 99%,tốt nghiệp trung học cơ sở trên 97%

Tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng dạy nghề, mở rộng ngành nghề đào tạo với 13 bộ môn, xây dựng đưa vào hoạt động Trường Dạy nghề Nhân đạo, là công trình kết hợp vốn đầu tư từ ngân sách với huy động nguồn tài trợ tổ chức từ thiện Hàn Quốc. Kết hợp với các Trung tâm cai nghiện ma túy, tệ nạn xã hội để tổ chức các lớp dạy nghề,giúp các thanh thiếu niên sai phạm có một nghề cơ bản để vững bước tái hoà nhập với cuộc sống khi ra trường trại.

Việc thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường lớp, xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã có những mặt tích cực, tạo điều kiện nâng cao mặt bằng dân trí có nhu cầu học hỏi, giúp các trường lớp có điều kiện nâng cấp trang thiết bị đồ dùng dạy học, phục vụ nhu cầu ngày một cao của các em học sinh. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt hạn chế tồn tại, việc vận động PHHS đóng góp nhiều khi quá mức và xé rào. Việc dạy thêm và nhu cầu học thêm là một thực tế nhưng khá tràn lan, chưa có biện pháp quản lý tốt.

2/ Về Văn hoá - TDTT :

Hoạt động văn hoá, văn nghệ quận tiếp tục được phát triển, chú trọng phát huy bản sắc dân tộcphục vụ nhiệm vụ chính trị của quận, phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng tiếp tục được phát huy. Liên hoan ca múa nhạc dân tộc “giai điệu quê hương" đã trở thành liên hoan chung của toàn Thành phố và qui tụ thêm sự tham gia của nhiều đơn vị bạn.

Hoạt động của các Trung tâm Văn hoá Quận, Trung tâm TDTT Quận trở thành những nơi thu hút đông đảo thanh thiếu niên tham dự, là những sân chơi lành mạnh, vừa góp phần hướng dẫn thị hiếu thẩm mỹ, đấu tranh chống lại các loại hình văn hoá văn nghệ không lành mạnh, các tệ nạn xã hội.

Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá được duy trì, nhiều khu phố văn minh - sạch đẹp - an toàn được công nhận. Tính đến tháng 11/2000, đã ra mắt Ban Chủ nhiệm vận động xây dựng 14 khu phố văn hoá, 02 chung cư và 02 cư xá văn hoá.

Phong trào thể dục thể thao được duy trì và phát triển, nhiều năm liền Quận 3 tiếp tục giữ vững vị trí là một trong những quận dẫn đầu trong phong trào chung toàn Thành phố, đóng góp cho Thành phố và cả nước nhiều vận động viên ưu tú, đạt được nhiều thành tích cao trong nước và Quốc tế.

Công tác quản lý nhà nước về văn hoá được chú trọng, bên cạnh công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục nhận thức thẩm mỹ, phê phán các hiện tượng tiêu cực, công tác kiểm tra, xử lý các vụ việc vi phạm, bài trừ văn hoá phẩm đồi trụy, phản động, tệ nạn xã hội… được tiến hành thường xuyên. Tuy nhiên hiện nay tình trạng bày bán, cho thuê sách báo, băng hình, đĩa nhạc, đĩa hình… ngoài luồng, nhảm nhí vẫn tiếp tục tái hiện, chưa có biện pháp xử lý triệt để tận gốc. Các tệ nạn xã hội vẫn còn lén lút diễn ra trong các hoạt động kinh doanh ăn uống, khách sạn, nhà hàng.

3/ Về Y tế :

Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống dịch bệnh được tăng cường, đặc biệt là công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịch bệnh, củng cố y tế cơ sở… đã góp phần bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Thực hiện xã hội hoá về y tế, mở ra nhiều hình thức chữa trị bệnh, phát triển thêm 2 bệnh viện tư nhân trên địa bàn quận. Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình có chuyển biến tốt, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục vận động được nhiều hộ gia đình đồng tình hưởng ứng. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm giảm còn 1,2% (so với Nghị quyết 1,3%).

Đứng trước nguy cơ của căn bệnh HIV - AIDS và ma túy, các ban ngành quận, phường, mặt trận, đoàn thể đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, điều tra lên kế hoạch phối hợp với gia đình - xã hội để chữa trị.

Công tác quản lý nhà nuớc đối với các hoạt động hành nghề y dược tư nhân được tăng cường, thường xuyên kiểm tra chấn chỉnh những vi phạm, nhằm phục vụ tốt công tác chăm lo sức khoẻ cho nhân dân.

4/ Giải quyết chính sách TBXH - Lao động - Đời sống :

Các chương trình, chính sách về xã hội luôn được sự quan tâm của Đảng bộ và chính quyền Quận. Công tác chăm lo, thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ đối với gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh, cán bộ lão thành, chăm sóc người già yếu tàn tật cô đơn, trẻ em nghèo có điều kiện đến trường… được các ngành, các cấp Mặt trận - Đoàn thể quận, phường thường xuyên chăm lo thực hiện căn cơ hơn. Tổng số diện chăm lo trên địa bàn quận hiện nay là 1.685 gia đình chính sách (1.203 gia đình liệt sĩ, 482 gia đình có công cách mạng) và 5.915 người hưởng chính sách (bao gồm 17 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 02 anh hùng lực lượng vũ trang, 1.062 thương binh, 62 bệnh binh, 227 cán bộ ưu đãi tiền khởi nghĩa, 3.965 cán bộ hoạt động kháng chiến, 471 người có công cách mạng, 59 hưởng tuất từ trần, 50 thân nhân thương binh nặng).

Phong trào vận động xây dựng nhà tình nghĩa được tiếp tục duy trì, công tác vận động xây dựng nhà tình thương, sửa chữa chống dột cho nhân dân lao động được triển khai đạt kết quả khá tốt. Trong 5 năm qua, đã xây dựng 40 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa chống dột 163 căn diện gia đình chính sách, 117 căn nhà tình thương.

Chương trình xóa đói giảm nghèo với nguồn quỹ trên 4,1 tỉ đồng đã giải quyết trợ vốn cho trên 2.460 hộ có điều kiện làm ăn sinh sống, tính chung 5 năm qua, đã giải quyết cho trên 12.200 lượt hộ được vay vốn, giúp các hộ vượt khó, giảm nghèo. Đây là một chương trình xã hội hợp lòng dân, có ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội rộng lớn. Bên cạnh đó, quận còn vận động hỗ trợ cho các huyện, xã vùng sâu, khu căn cứ cách mạng cũ, các huyện xã nghèo ngoại thành và các tỉnh theo chủ trương của Thành phố,đạt kết quả cao

- Công tác giải quyết việc làm đã đạt những kết quả tích cực, bình quân hàng năm quận đã giới thiệu 7.000 lao động có việc làm, tăng so với Nghị quyết đề ra (5.000 - 6.000 người). Chi nhánh Dịch vụ Việc làm được quận thành lập trong năm 1999 cũng đã đóng góp tích cực, hướng dẫn, giới thiệu, giúp thanh niên tìm được việc làm.

- Đi đôi với kinh tế phát triển, thực trạng đời sống của nhân dân đã được nâng lên. Tuy nhiên bên cạnh đó tệ nạn xã hội cũng phát sinh khá phức tạp, số dân nhập cư sống bằng nhiều ngành nghề tạm bợ, buôn bán dạo, chiếm vĩa hè, ngủ lang thang… là những vấn đề bức xúc của xã hội tập trung ở những quận nội đô, trong đó có Quận 3. Tệ nạn mãi dâm và các hình thức trá hình khác được quận quan tâm chỉ đạo kiểm tra, truy quét xử lý nhưng vẫn tiếp tục tái hiện nếu một phút lơ là, nạn tiêm chích ma túy, sử dụng các chất gây nghiện khác là một quốc nạn phát triển nhanh trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Quận đã thành lập Đội chuyên trách phòng chống ma túy nhưng vấn đề giải quyết căn cơ vẫn còn đang ở phiá trước với sự nổ lực của toàn xã hội, đặc biệt vai trò chăm sóc giáo dục quản lý của gia đình.

V.- VỀ AN NINH QUỐC PHÒNG - NỘI CHÍNH :

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận lần thứ VII, trong thời gian qua, quận đã tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện hoàn thành được nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị, tăng cường bảo vệ an ninh nội bộ và trật tự an toàn xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, đẩy mạnh phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc và quốc phòng toàn dân, tăng cường hiệu lực pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng cố bộ máy tổ chức, quản lý và điều hành nhà nước ở các ngành, các cấp quận, phường.

1/ Về An ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội :

- Trên địa bàn quận, an ninh chính trị trong thời gian qua được đảm bảo tốt, mặc dù tình hình chung có phát sinh những diễn biến phức tạp. Nhận thức được âm mưu "diễn biến hoà bình" của địch, đã chỉ đạo xây dựng các phương án tăng cường an ninh quốc gia trong tình hình mới, xây dựng thế trận an ninh cơ sở cùng với việc phát huy phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc. Đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hoạt động phá hoại của địch và các loại tội phạm qua các chiến dịch "chuyển lửa về quê nhà", "đòi dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam", tán phát các tài liệu từ nước ngoài về Việt Nam qua hệ thống Internet, thư tín điện tử, bưu điện hoặc núp bóng qua các hoạt động của Văn phòng đại diện nước ngoài, các tổ chức phi Chính phủ…

 Tình hình trong những năm gần đây nổi lên khá nhiều vụ khiếu kiện của dân từ các tỉnh thành, quận huyện ngoại thành kéo về Văn phòng Tiếp dân Trung ương, Văn phòng Thành ủy đóng trên địa bàn quận để khiếu kiện về đất đai, đền bù giải toả… khá phức tạp. Riêng tại quận cũng nổi lên vấn đề khiếu kiện đòi lại các cơ sở cũ của tôn giáo, hội đoàn và các vụ khiếu kiện của các hộ dân thuộc chương trình giải toả rạch Bùng Binh, kênh Nhiêu Lộc và ở một số khu vực khác… Quận đã tập trung chỉ đạo xử lý nhuần nhuyễn từ cơ sở, các phường đã kết hợp chặt chẽ với Mặt trận - Đoàn thể kiên trì vận động thuyết phục, giải thích cho nhân dân thông suốt đường lối, chủ trương chính sách của Đảng & Nhà nước, không để các phần tử bất mãn, các thế lực thù địch kích động, xúi giục.

Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa và trấn áp các loại tội phạm kinh tế, hình sự, văn hoá. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, xây dựng các đề án, chuyên đề thực hiện chương trình quốc gia phòng chống tội phạm theo Quyết định 138/CP của Chính phủ, triệt phá nhiều băng nhóm và các vụ phạm pháp hình sự nghiêm trọng, tỉ lệ khám phá án đạt 50 - 55%.

Đẩy mạnh công tác vận động và tổ chhức các phòng trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, phong trào xây dựng nếp sống mới trong cộng đồng dân cư, xây dựng Tổ dân phố an toàn về an ninh trật tự, phát huy vai trò cơ sở trong bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội, phát hiện, ngăn ngừa và cảm hoá giáo dục tại cơ sở.

Qua thực tiễn cho thấy việc triển khai đề án an ninh cơ sở, xây dựng và củng cố lực lượng nồng cốt, phát động quần chúng tham gia bảo vệ an ninh trật tự đã thu được nhiều kết quả, nhiều Tổ dân phố đã tự giải quyết được những vấn đề liên quan đến an ninh trật tự. Việc phát huy vai trò của Mặt trận - các Đoàn thể, lực lượng hưu trí, nhất là Cựu Chiến binh đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề tại cơ sở, nhất là trên lĩnh vực an ninh trật tự trên địa bàn dân cư.

2/ Về Quân sự - Quốc phòng toàn dân :

Nhiệm vụ quốc phòng và công tác quân sự địa phương đã có nhiều tiến bộ, góp phần trong công tác giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống bạo loạn tại địa phương.

Chú trọng công tác xây dựng lực lượng vũ trang thường trực, quân dự bị động viên và dân quân tự vệ cả về số lượng và chất lượng. Công tác huấn luyện, thao diễn được tổ chức định kỳ hàng năm, đảm bảo trên 95% quân số tham gia. Lực lượng dân quân tự vệ thường xuyên được bổ sung, đến nay đã xây dựng được một lực lượng chiếm 3,83% tổng số dân (năm 1995 chiếm 1,9% dân số). Lực lượng dự bị động viên được tổ chức sắp xếp biên chế vào các đơn vị dự bị đúng chỉ lệnh quân sự qui định, đảm bảo chuyên nghiệp 70%. Công tác động viên tuyển quân hàng năm đều được chuẩn bị từ cơ sở và tiến hành đúng qui trình luật định, đạt và vượt chỉ tiêu giao quân hàng năm. Tuy nhiên tình trạng trốn NVQS và đào bỏ ngũ vẫn còn nhưng biện pháp xử lý chưa nghiêm.

 Qua các đợt diễn tập khu vực phòng thủ, chống biểu tình bạo loạn hàng năm được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Quân sự Thành phố, đã bổ sung hoàn thiện kế hoạch phòng thủ của quận, nâng cao ý thức cảnh giác, sẵn sàng ứng phó chiếu đấu với mọi tình huống và âm mưu phá hoại của địch.

Chính sách hậu phương quân đội, công tác chăm lo đời sống cho cán bộ chiến sĩ, lực lượng vũ trang được sự quan tâm của các Cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể ngày một tốt hơn.

3/ Công tác xây dựng chính quyền và bảo vệ pháp luật : Có nhiều tiến bộ, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội. Việc chấp hành pháp luật và thực thi dân chủ ngày một tốt hơn.

Công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến pháp luật được quan tâm hơn, các bộ luật cơ bản và các luật mới ban hành, sửa đổi, các pháp lệnh, nghị định… hầu hết được triển khai tập huấn cho cán bộ chủ chốt cũng như mạng lưới tuyên truyền viên pháp luật cơ sở nghiên cứu.

Công tác thanh kiểm tra được tăng cường, phát hiện nhiều trường hợp vi phạm pháp luật trong quản lý kinh tế, tài chính, nghĩa vụ thuế, xây dựng cơ bản… góp phần tích cực trong công tác bảo vệ thực thi pháp luật, đấu tranh chống tham nhũng, chống buôn lậu, chống lãng phí, chống gây phiền hà nhân dân.

- Bộ máy chính quyền quận, phường được củng cố, theo hướng trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt tại các phòng ban ngành đơn vị cơ sở qua thực tiển công tác. Sắp xếp các phòng ban đơn vị tinh gọn hơn, thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế "1cửa - 1 dấu” theo qui định.

IV.- NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ :

1/ Khái quát những thành tựu :

Nhìn chung, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận lần thứ VII, trong 5 năm qua (1996 - 2000) Ủy ban Nhân dân Quận đã triển khai tổ chức thực hiện đạt được những chỉ tiêu kế hoạch, nhiệm vụ kinh tế - xã hội đã đề ra:

- Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch thể hiện khá rõ đúng theo tinh thần Nghị quyết: Dịch vụ, Thương mại (78,5%), sản xuất TTCM (21,5%).

- Công tác quản lý nhà nước về kinh tế từng bước kiện toàn, chuyển từ can thiệp sâu vào các hoạt động của doanh nghiệp sang quản lý hành chánh nhà nước về kinh tế.

- Đô thị có bước phát triển theo hướng văn minh hiện đại, với các chương trình cải tạo nhà ở, di dời tái bố trí dân cư ở khu vực rạch Bùng Binh và kênh Nhiêu Lộc. Nhiều công trình nhà ở, phúc lợi công cộng được xây dựng.

- Các hoạt động giáo dục, văn hoá TDTT có nhiều khởi sắc. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chăm lo gia đình chính sách và nhân dân lao động nghèo đạt kết quả tốt.

- An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững, bộ máy tổ chức chính quyền quận, phường không ngừng được củng cố và cải tiến theo hướng tinh gọn, hiệu lực quản lý nhà nước từng bước được nâng lên.

2/ Nguyên nhân những thành tựu :

- Trong công tác lãnh đạo và quản lý : Rút kinh nghiệm của nhiệm kỳ trước, quận đã nghiêm khắc kiểm điểm đấu tranh và chấn chỉnh lại lề lối làm việc, phương pháp điều hành quản lý, có sự phân công cụ thể, kiểm tra tình hình kết quả thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm của quận.

- Phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan ban ngành, có sự phối kết hợp chặt chẽ với Mặt trận và các Đoàn thể.

- Công tác vận động quần chúng được chú trọng, phát huy qui chế dân chủ cơ sở trong triển khai thực hiện các chủ trương chính sách, các yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của quận.

- Tranh thủ được sự ủng hộ của các Sở, Ban ngành Thành phố hỗ trợ giúp quận vượt qua khó khăn, tổ chức thực hiện đạt kết quả các chương trình trọng tâm công tác.

3/ Khái quát những tồn tại trong 5 năm 1996 - 2000 :

- Trên lĩnh vực kinh tế, một số chỉ tiêu không đạt, sự đổ vỡ của các doanh nghiệp thuộc quận hoặc có vốn của quận (Epco, Công ty Thương mại Vật tư, Xí nghiệp May xuất khẩu…) đã gây nên những tổn thất lớn về mặt tài chính, tài sản, con người, lao động việc làm, uy tín của quận mà đến nay vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm hết các tồn tại.

- Các dự án đầu tư triển khai chậm, nhất là bước chuẩn bị dự án. Công tác quản lý công trình xây dựng còn yếu, có những sơ hở sai sót.

- Công tác quản lý đô thị vẫn còn nhiều điều bất cập, tồn tại nhất là việc chấp hành trật tự đô thị, vệ sinh môi trường, các qui định về quản lý xây dựng. Chưa có biện pháp giải quyết rốt ráo, căn cơ, có hiệu quả.

- Đời sống của các tầng lớp nhân dân nói chung được cải thiện, nâng lên, nhưng vẫn còn một bộ phận dân cư đời sống còn bấp bênh, khó khăn về thu nhập sinh hoạt hàng ngày cũng như nơi ăn chốn ở. Trên địa bàn quận vẫn còn những khu vực nhà ở lụp xụp, thiếu điện nước sinh hoạt, ngập úng vào mùa mưa. Tệ nạn xã hội vẫn còn và có những biến tướng phức tạp, văn hoá phẩm độc hải tiếp tục xâm nhập, lưu hành.

- An ninh chính trị trật tự xã hội tuy có chuyển biến tích cực nhưng còn tiềm ẩn những nguy cơ bộc phát : tình trạng trộm cắp xe, cướp giật trên đường phố còn xảy ra khá nhiều, tệ nạn tiêm chích, sử dụng chất ma túy phát triển nhanh trong lứa tuổi thanh thiếu niên không có công ăn việc làm, học hành và có nguy cơ xâm nhập vào học đường. Phong trào quần chúng bảo vệ An ninh Tổ quốc chưa thực sự đủ mạnh để trấn áp có hiệu quả các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, đơn vị chức năng chưa phát huy tốt vai trò giữ gìn an ninh trật tự tại cơ sở.

4/ Nguyên nhân tồn tại :

- Về các chỉ tiêu kinh tế không đạt, bên cạnh mức sút giảm do sự đổ vỡ của một số doanh nghiệp và tình hình kinh tế nói chung, còn do khi xây dựng chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội chưa dự báo hết tình hình kinh tế xã hội, nên đã đề ra một số chỉ tiêu khá cao, thiếu khả thi.

- Sự đổ vỡ của các doanh nghiệp xảy ra trong năm 1997 nhưng đã tiềm ẩn từ những năm trước, ngoài sai phạm của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, về phần trách nhiệm quản lý, trước đây UBND Quận đã không tách bạch làm rõ vai trò quản lý nhà nước đối với các chủ thể kinh tế, tham gia quá sâu, xử lý không đúng thẩm quyền đối với các vấn đề cụ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp, từ đó dẫn đến vai trò trách nhiệm liên đới của UBND Quận và của một số cán bộ chủ chốt . Hiện nay, những tồn tại gây ra của các doang nghiệp vẫn chưa giải quyết dứt điểm do nhiều vấn đề vượt ngoài phạm vi thẩm quyền của quận.

- Một số đề án ở các lĩnh vực tiến độ thực hiện chậm, ngoài nguyên nhân khách quan, các ngành, đơn vị chức năng chưa có sự tập trung và thiếu sự phối hợp với nhau trong triển khai thực hiện, thiếu chủ động và tinh thần trách nhiệm chưa cao.

- Tình trạng vi phạm trật tự đô thị, trật tự xây dựng, vệ sinh môi trường, tệ nạn xã hội vẫn tái diễn, một mặt do công tác kiểmtra xử lý chưa kịp thời, không đủ lực lượng chốt chặn thường xuyên ở những địa bàn khu vực trọng điểm, công tác xử lý vi phạm thiếu kiên quyết. Mặt khác do ý thức chấp hành pháp luật trong một bộ phận nhân dân chưa cao, nghĩ đến lợi ích cá nhân trước mắt, bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước chưa có biện pháp xử lý căn cơ, có hiệu quả. Hiệu lực quản lý nhà nước còn thấp.

- Công tác chỉ đạo, điều hành của bộ máy chính quyền quận – phường tuy được củng cố nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hiện nay của một quận nội đô, trung tâm Thành phố có nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp phát sinh. Vừa phải đảm bảo giữ vững nguyên tắc, vừa phải năng động sáng tạo trong phạm vi chức năng quyền hạn để xử lý từng tình huống. Nhiều công trình công tác chậm được triển khai hoặc tổ chức thực hiện không đạt yêu cầu do trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ viên chức nhà nước còn hạn chế, phải kiểm tra, chỉnh lý, mất nhiều thời gian, hiệu quả không cao.

 

Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ & XÃ HỘI TRONG 5 NĂM TỚI (2001 - 2005)

I.- MỤC TIÊU TỔNG QUÁT :

- Tập trung đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm, cơ sở hạ tầng, đồng thời huy động sức dân để phát triển và chỉnh trang đô thị. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng, trật tự đô thị, vệ sinh môi trường.

- Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực để phát triển kinh tế, đồng thời tận dụng thời cơ, tăng cường quan hệ hợp tác thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá để phát triển kinh tế - xã hội quận theo định hướng cơ cấu : Dịch vụ - Thương mại - Sản xuất TTCN.

- Gắn phát triển kinh tế với giải quyết và chăm lo các vấn đề văn hoá - xã hội - an ninh quốc phòng. Triệt để thực hành tiết kiệm, tăng tích lũy nội bộ và phát huy nội lực từ cơ sở để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, cải thiện điều kiện ăn ở sinh hoạt, nâng dần mức sống của nhân dân. Đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học công nghệ. Quản lý có hiệu lực, hiệu quả các hoạt động văn hoá - xã hội.

- Đẩy mạnh cải cách hành chánh, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tinh giảm biên chế củng cố bộ máy tổ chức, nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ viên chức, phát huy dân chủ cơ sở, giải quyết các nhu cầu chính đáng của nhân dân.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp để giữ vững ổn định chính trị - an ninh trật tự. Đẩy mạnh hiệu quả phòng chống tội phạm, giải quyết các tệ nạn xã hội.

II.- NHIỆM VỤ CHỦ YẾU TRÊN TỪNG LĨNH VỰC :

1/ Trên lĩnh vực Quản lý đô thị :

- Phát huy nội lực, khai thác tiềm năng thế mạnh trong dân để tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang nhà ở, tạo sự chuyển biến rõ nét về bộ mặt đô thị, giải quyết tốt các vấn đề môi sinh môi trường, cảnh quan văn hoá.

- Tập trung thực hiện các dự án đầu tư, các công trình xây dựng cơ bản trọng điểm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội quận giai đoạn 2001 - 2005.

- Hoàn tất công tác qui hoạch toàn bộ các hẽm trên địa bàn quận và công tác cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở để làm cơ sở pháp lý, giúp người dân có điều kiện thực hiện chương trình chỉnh trang đô thị và nhà ở. Chú ý đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp cải tạo các khu vực dân cư lao động, nhà ở lụp xụp.

- Tăng cường công tác quản lý, lập lại trật tự đô thị trên địa bàn quận theo tinh thần Nghị định 36/CP, 39/CP và 48/CP của Chính phủ, phân công trách nhiệm cho ngành chức năng, cho phường. Tăng cường công tác vận động quần chúng tuyên truyền và tổ chức sắp xếp các khu vực buôn bán, giải quyết tình trạng buôn bán dạo dọc đường phố và trên vĩa hè.

- Giải quyết triệt để vấn đề thu gom và xử lý rác trên cơ sở giải quyết tốt lực lượng thu gom rác dân lập, cơ giới hoá và hiện đại hoá các trang thiết bị thu gom rác. Đẩy mạnh phong trào vệ sinh sạch đẹp đường phố.

- Một số công trình chủ yếu đầu tư xây dựng, giải quyết cơ sở hạ tầng :

* Xây dựng mới thêm 200 phòng học, trong đó tập trung cho các khu vực lao động, đông dân cư.

* Xây dựng Trung tâm Thể dục Thể thao Hồ Xuân Hương.

* Xây dựng mới các cơ sở văn hoá : Nhà Thiếu nhi - Trung tâm Dịch vụ Văn hoá Tổng hợp Nam Quang - Nhà hát ca kịch cải lương Đại Đồng.

* Xây dựng 1000 căn hộ : phục vụ nhu cầu nhà ở cho nhân dân (qua chương trình chỉnh trang đô thị tại địa bàn quận và phối hợp với các huyện ngoại thành).

* Thực hiện giai đoạn 2 chương trình Nhiêu Lộc - Thị Nghè : hoàn chỉnh hạ tầng dọc 2 bờ kênh (hệ thống chiếu sáng, cây xanh, cống thoát nước). Qui hoạch chỉnh trang khu nhà ở dọc bên trong tuyến kênh, mở hẽm và cống nối thông ra trục đường 2 bờ kênh, giải quyết tình trạng ngập úng vào mùa mưa ở khu vực kênh Nhiêu Lộc - Rạch Bùng Binh và một số khu dân cư khác.

* Đảm bảo cung cấp nước máy cho mọi hộ dân.

* Thí điểm sử dụng mạng máy tính trong giảng dạy tại một số trường trung học cơ sở.

* Giải quyết vệ sinh môi trường, xử lý rác : trên cơ sở xây dựng ít nhất 2 bô ép rác kín trung chuyển, cơ giới hoá và hiện đại hoá các trang thiết bị, phương tiện thu gom vận chuyển rác.

* Xây dựng các Trung tâm phát triển kinh tế : Thành lập Trung tâm Công nghệ phần mềm tại quận - Trung tâm Thương mại Dịch vụ Tổng hợp Chợ Đũi, cải tạo nâng cấp chợ Nguyễn Văn Trỗi và các chợ khác.

* Xây dựng khu hành chánh quận : thực hiện "1 cửa 1 dấu", các phòng ban về một trụ sở tại khu đất 101 Trần Quốc Thảo (gồm trụ sở mới UBND Quận và trụ sở mới Quận đội) nhằm trả lại trụ sở hiện tại của Ủy ban Nhân dân Quận cho Chính phủ Campuchia, kinh phí xây dựng theo phương thức thanh lý nhà của các phòng ban hiện hữu khi nhập về chung trụ sở.

2/ Trên lĩnh vực Kinh tế :

- Căn cứ định hướng “qui hoạch phát triển kinh tế Quận 3 đến năm 2010” và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VIII) có biện pháp tác động hữu hiệu nhằm thúc đẩy phát triển cơ cấu kinh tế Dịch vụ - Thương mại - sản xuất TTCN, trong đó :

* Về thương mại - dịch vụ : Từ một số cụm thương mại đã định hình, tập trung tác động để phát triển thành những khu trung tâm dịch vụ - thương mại, đặc biệt chú ý thu hút các loại hình dịch vụ, tài chính - ngân hàng, dịch vụ du lịch đầu tư phát triển. Đa dạng phong phú hoá các hoạt động dịch vụ trên địa bàn quận (dịch vụ tư vấn, dịch vụ khám điều trị bệnh, dịch vụ văn hoá…).

* Về Công nghiệp - TTCN : Chú ý phát triển công nghệ tinh và sạch (điện tử, công nghệ thông tin), hàng mộc mỹ nghệ, trang trí nội thất cao cấp.

- Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi khai thác các tiềm năng, thế mạnh của các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội quận theo định hướng đã đề ra, gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề lao động việc làm. Phấn đấu trong 5 năm 2001- 2005, kinh tế quận đạt các chỉ tiêu sau :

* Doanh thu thương mại - dịch vụ : Tăng 12%

* Giá trị sản lượng Công nghiệp - TTCN : Tăng 6%

* Giá trị hàng xuất khẩu : Tăng 5%.

- Hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế hợp tác, liên doanh liên kết, đảm bảo phát triển đúng hướng, đúng pháp luật.

- Vận động các doanh nghiệp tham gia các chương trình kích cầu đầu tư của Thành phố, vay vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phát triển sản xuất kinh doanh.

- Hoàn thành việc sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, củng cố các doanh nghiệp còn lại và giải quyết các vấn đề tồn tại. Qua thực hiện việc sáp nhập 2 doanh nghiệp công ích thành Công ty Dịch vụ Công ích Quận, tạo điều kiện phát huy năng lực hoạt động của đơn vị để giải quyết tốt các vấn đề cơ sở hạ tầng đô thị, phúc lợi công cộng.

- Tiếp tục thực hiện chủ trương đã đề ra trong Đại hội VII là hình thành Trung tâm Thương mại - Dịch vụ Quận tại khu vực chợ Đũi - Trung tâm Dịch vụ - Văn hoá Tổng hợp Nam Quang và những cụm dịch vụ - thương mại ở các tuyến đường trọng điểm.

- Nâng cấp chỉnh trang chợ Nguyễn Văn Trỗi và tiếp tục xây dựng chỉnh trang các chợ khác trên địa bàn quận, đảm bảo trật tự vệ sinh, lịch sự văn minh.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trên địa bàn quận, tạo điều kiện hoạt động và phát triển theo qui hoạch, đúng pháp luật. Đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền và thực thi pháp luật trong kinh doanh.

- Qua phát triển kinh tế, đẩy mạnh công tác quản lý và thu thuế, khai thác tốt các nguồn thu. Thực hiện tốt công tác quản lý thu chi ngân sách, đảm bảo đúng kế hoạch, triệt để tiết kiệm, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của quận, ưu tiên cho đầu tư các công trình phúc lợi công cộng trên lĩnh vực giáo dục - y tế - công trình đô thị.

3/ Trên lĩnh vực văn hoá xã hội :

Gắn tăng trưởng kinh tế, tập trung giải quyết tốt các vấn đề văn h- xã hội, đầu tư các công trình phúc lợi, cơ sở vật chất trường học, y tế, thể dục thể thao, văn hoá.

- Tiếp tục thực hiện các chương trình hành động của quận theo Nghị quyết Trung ương 2, 5 về đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục - y tế - thể dục thể thao…

3.1/ Giáo dục - Đào tạo : Tiếp tục đầu tư cho sự nghiệp giáo dục về cơ sở vật chất trường lớp và về chất lượng dạy và học, giữ vững và phát huy kết quả đạt được về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục. Đẩy mạnh công tác dạy nghề gắn với giải quyết việc làm, có kế hoạch huy động số thanh thiếu niên bỏ học nữa chừng vào các trường bổ túc và dạy nghề. Phấn đấu đến năm 2000 hoàn thành phổ cập trung học cơ sơ đúng độ tuổi, đến năm 2004 đạt chuẩn phổ cập trung học toàn quận và đến năm 2005 có 4 trường đạt tiêu chuẩn Quốc gia.

- Triển khai thực hiện đề án qui hoạch trường lớp (hoán đổi mặt bằng các trường chưa đảm bảo điều kiện dạy học, dồn tài chánh xây dựng nâng cấp trường lớp, thực hiện việc di chuyển các hộ dân đang ở trong khuôn viên trường.

3.2/ Về Văn hoá : Phát huy ưu điểm đã đạt được, qua hoạt động văn hoá văn nghệ, chú trọng phát huy nhân cách, nâng cao trình độ thưởng ngoạn, hướng sự cảm thụ vào mục tiêu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực hoạt động văn hoá, chống văn hoá đồi trụy phản động, độc hại. Phấn đấu đến năm 2005 xây dựng 60% hộ đạt chuẩn về gia đình văn hoá, 40% khu phố và khu tập thể đạt chuẩn khu phố văn hoá.

3.3/ Dân số - lao động việc làm - thực hiện chính sách xã hội :

Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (bình quân mỗi năm 0,03%), đến năm 2005 tốc độ tăng dân số tự nhiên đạt 1,15%. Giới thiệu giải quyết việc làm hàng năm cho 6.000 - 7.000 lao động, trong đó có ít nhất 50% lao động của quận. Đầu tư cho Trung tâm Dạy nghề và Trường Công nhân Kỹ thuật Nhân đạo về cơ sở vật chất trang thiết bị và đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên để phát huy công tác dạy nghề đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cao hiện đại.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác chăm lo gia đình chính sách, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, phát huy phong trào đền ơn đáp nghĩa, chính sách hậu phương quân đội. Tiếp tục vận động và phát huy hiệu quả sử dụng quỹ bảo trợ chính sách quỹ đền ơn đáp nghĩa. Vận động xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, sửa chữa chống dột, ngập… Phấn đấu vận động nguồn lực trong dân để chăm lo chính sách hàng năm từ 1,5 tỉ đồng trở lên. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, chống tái đói, phấn đấu hàng năm có 10% số hộ trong diện vượt nghèo.

Phát huy vai trò đóng góp của toàn xã hội trong việc chăm sóc trẻ em nghèo, lang thang, thất học vào các nhà mở.

3.4/ Tăng cường chăm sóc sức khoẻ nhân dân : Đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Thực hiện tốt công tác tiêm chủng mở rộng đạt trên 95% trong diện. Đẩy mạnh công tác chăm sóc bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Quản lý, phát hiện điều trị kịp thời các bệnh xã hội. Đẩy mạnh công tác phòng chống HIV - AIDS và ma túy. Trung tâm Y tế Quận tiếp tục thực hiện miễn giảm viện phí cho các gia đình chính sách, các hộ diện xoá đói giảm nghèo.

Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động y dược trên địa bàn, có kế hoạch huy động lực lượng y bác sĩ trên địa bàn tham gia các chương trình xã hội của quận.

Tiếp tục phát huy các loại hình khám chữa bệnh, cơ sở y tế tư nhân hoạt động trong khuôn khổ qui định của pháp luật và của ngành.

 3.5/ Đẩy mạnh hoạt động TDTT : Theo hướng phát triển phong trào toàn dân tham gia rèn luyện thể chất, chú ý đến lực lượng thanh thiếu niên, học sinh, hoạt động TDTT trong nhà trường. Phấn đấu 100% học sinh đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể.

3.6/ Tập trung giải quyết tệ nạn xã hội : Kết hợp nhiều biện pháp kinh tế, giáo dục, hành chính. Chú trọng biện pháp phát động quần chúng tham gia tác động từ cơ sở Tổ dân phố, khu phố. Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm Nghị định 87/CP, 88/CP, Chỉ thị 814/TTg. Đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành phòng chống tệ nạn mãi dâm, ma túy, cướp giật và các tệ nạn xã hội nghiêm trọng khác.

Phấn đấu giảm hàng năm 20% số người nghiện ma túy.

4/ An ninh - Quốc phòng :

4.1- Về an ninh chính trị, trật tự xã hội, nhiệm vụ trong 5 năm tới là :

- Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, triển khai quán triệt sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, nhiệm vụ xây dựng quốc phòng trong tình hình mới.

Thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời phát hiện và làm thất bại mọi mưu toan, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình".

- Đấu tranh với các biểu hiện cơ hội, hữu khuynh, tăng cường công tác bảo vệ an ninh nội bộ.

- Trên cơ sở tổng kết thực tiễn việc thực hiện các chuyên đề về an ninh quốc gia để tăng cường hiệu quả thực hiện trong giai đoạn mới.

- Tăng cường nhiệm vụ quản lý nhà nước về mặt an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng - văn hoá. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

- Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế - hình sự. Triệt phá tận gốc các hang ổ, các đường dây băng nhóm của bọn tội phạm, làm chuyển biến rõ rệt tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận. Phấn đấu kéo giảm ít nhất 10% số vụ phạm pháp hình sự mỗi năm, tăng tỉ lệ khám phá án lên 60 - 65% nhất là các tội phạm nghiêm trọng phải đạt tỉ lệ phá án từ 80 - 90%.

- Phát huy phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, phong trào xây dựng nếp sống mới trong cộng đồng dân cư, xây dựng khu phố, Tổ dân phố an toàn.

4.2- Về công tác quốc phòng :

Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hoàn thiện kế hoạch phòng thủ chiếc lược.

- Thực hiện tốt công tác quân sự địa phương, xây dựng lực lượng chính qui, dân quân tự vệ, dự bị động viên. Tăng cường công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

4.3- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước; củng cố bộ máy tổ chức cơ quan chính quyền quận - phường. Tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách hành chánh theo hướng tinh giảm, hoạt động có hiệu quả, không gây ách tắt công việc và phiền hà cho nhân dân, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của khu phố, tổ dân phố.

Tăng cường kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, thanh kiểm tra các vụ việc vi phạm pháp luật, xử lý kịp thời các sai phạm. Đẩy mạnh công tác đấu tranh chống tham nhũng. Tăng cường công tác giáo dục nhận thức chính trị, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ phát huy vai trò trách nhiệm của công chức viên chức.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật. Phát huy vai trò hoà giải tại cơ sở. Thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đúng theo luật định.

III.- BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN :

Để đạt được các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tới 2001 - 2005, quận tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện bằng các giải pháp chủ yếu sau :

1/ Nâng cao hiệu lực quản lý của hệ thống chính quyền, phát huy vai trò của cấp cơ sở phường, phân công phân cấp, làm rõ phạm vi chức năng quyền hạn để có sự chủ động giải quyết nhanh nhạy, kịp thời các vấn đề trên địa bàn quản lý.

2/ Phát huy vai trò của các đơn vị phòng ban chức năng trong việc tham mưu và phân công thực hiện các chương trình trọng điểm công tác và công tác xây dựng các đề án, kế hoạch tổ chức thực hiện.

3/ Xây dựng và sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí từ ngân sách và các nguồn vốn đầu tư cho các dự án của quận. Đồng thời xã hội hoá mạnh mẽ, huy động nguồn lực đầu tư trong nhân dân cho phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội và các công trình cơ sở hạ tầng.

4/ Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, đối chiếu tình hình triển khai các chủ trương chính sách với thực tiển của xã hội, của địa phương để điều chỉnh các chương trình kinh tế - xã hội cho phù hợp với điều kiện thực tế.

 5/ Phát huy qui chế dân chủ cơ sở, chú trọng công tác dân vận, các chương trình, kế hoạch công tác liên quan đến người dân phải được quán triệt trong dân, công khai và lắng nghe thu thập ý kiến nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

6/ Phát huy qui chế phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận và các Đoàn thể trong vận động các phong trào quần chúng, làm cho mỗi người dân thông suốt, hưởng ứng và chấp hành thực hiện các chủ trương chính sách chương trình kế hoạch công tác của quận.

7/ Tiếp tục cải cách bộ máy hành chánh theo hướng tinh giảm 15% và tổ chức thực hiện tốt công tác khoán quỹ lương, tăng tiết kiệm giải quyết đời sống cho công nhân viên chức. Quan tâm phát hiện và bồi dưỡng đào tạo cán bộ, mạnh dạn đề bạt sử dụng đúng năng lực, có phẩm chất.

8/ Phát động và đẩy mạnh các phong trào thi đua lao động sáng tạo, hoàn thành các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội quận giai đoạn 2001 - 2005.  

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 3

Thông báo