Thứ Bảy, ngày 20 tháng 7 năm 2024

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 3 Lần thứ IV

Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV tiến hành từ ngày 3/10/1986 đến ngày 7/10/1986 đã thảo luận và đóng góp ý kiến vào văn bản dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) sẽ trình ra Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, đã thảo luận và đóng góp ý kiến vào dự thảo báo cáo tình hình và nhiệm vụ của Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố (khoá III) sẽ trình ra Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV sắp tới. Biên bản tổng kết các ý kiến đã được Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 thông qua và báo cáo kể trên.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV đã thảo luận báo cáo tình hình và nhiệm vụ, và bản kiểm điểm của Ban chấp hành Đảng bộ Quận 3 (khoá III) và cũng đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo Đại hội của đồng chí Phan Minh Tánh - Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng – Phó Bí thư Thành uỷ.

Với tinh thần, trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân trong Quận, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV quyết nghị:

1. Nhất trí thông qua báo cáo về tình hình và nhiệm vụ do đồng chí Trương Mỹ Lệ - Bí thư Quận uỷ và đồng chí Phan Văn Tiến – Phó Bí thư, Thường trực quận uỷ trình bày, có những điểm sửa đổi, bổ sung theo như đóng góp của Đại hội. Các báo cáo đó về cơ bản đã quán triệt được tinh thần Chỉ thị 79/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tự phê bình và phê bình, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đã đánh giá tương đối chính xác những kết quả đã đạt được và những khuyết điểm tồn tại và qui kết được những nguyên nhân của những ưu khuyết điểm đó. Phần nhiệm vụ của báo cáo cũng đã đề ra được phương hướng nhiệm vụ chủ yếu và nhiệm vụ cụ thể của Đảng bộ Quận 3 trong những năm 1986-1988 và năm 1990. Đại hội giao nhiệm vụ cho Ban Chấp hành khoá IV hoàn chỉnh văn kiện Đại hội và triển khai cho Đảng bộ và nhân dân trong Quận thực hiện.

2. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV nhiệt liệt biểu dương các tầng l1p nhân dân trong Quận, công nhân lao động, lực lượng vũ trang, cán bộ nghỉ hưu, đảng viên, đoàn viên TNCS, hội viên đoàn viên các đoàn thể mặt trận, các cháu thiếu niên nhi đồng đã kiên cường phấn đấu, dũng cảm chịu đựng khó khăn, vượt qua nhiều thử thách trong đời sống và sản xuất, giữ vững và phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, phát huy tinh thần làm chủ tập thể, tính năng động, sáng tạo, tích cực chấp hành các chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ địa phương, góp phần xây dựng bảo vệ thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu.

3. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV nhất trí thông qua 6 nhiệm vụ chủ yếu của Đảng bộ và nhân dân quận 3 trong 2 năm tới 1987-1988 và năm 1990, như đã trình bày trong báo cáo tình hình nhiệm vụ như sau:

Một là, Đẩy mạnh phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tập trung vào hàng xuất khẩu, nâng cao sản lượng, hàng tiêu dùng nội địa, theo hướng nâng cao dần năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở quy hoạch lại sản xuất mà đầu tư chiều sâu, trang bị mới, kết hợp tận dụng công suất máy móc. Tiến hành đổi mới cơ chế quản lý, nhằm khai thác các tiềm năng nhất là tay nghề, khoa học kỹ thuật phục vụ cho phát triển sản xuất. Song song đó, tổ chức lại sản xuất của Quận trên địa bàn theo ngành kinh tế kỹ thuật, nhóm sản phẩm, theo hướng tập thể hoá, chuyên môn hoá, khuyến khích đúng mức các thành phần kinh tế, đưa dần sản xuất quốc doanh ngày càng có tỷ trọng lớn trong toàn ngành.

Hai là, Lập lại trật tự trên mặt trận phân phối lưu thông, xây dựng chân hàng, nguồn hàng ổn định, tạo ra quỹ hành hoá để phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân, đấu tranh quản lý thị trường có hiệu quả nhất là về giá cả. Quy hoạch lại mạng lưới thương nghiệp dịch vụ của Quận trên địa bàn, nâng cao hiệu quả hoạt động, từng bước chiếm lĩnh và chủ đạo trên thị trường xã hội. Đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết và sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu tại quận.

Tiếp tục củng cố và tăng cường công tác cải tạo công thương nghiệp tư doanh.

Ba là, Trên cơ sở sản xuất phát triển và đẩy mạnh hoạt động các ngành Thương nghiệp, dịch vụ, từng bước ổn định đời sống cho nhân dân lao động, cán bộ công nhân viên, lực lượng vũ trang trên các mặt: giải quyết việc làm, ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh…

Bốn là, Từng bước xây dựng Quận có bộ mặt văn hoá phát triển, giải quyết các nhu cầu văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, chăm lo gia đình chính sách. Xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, kiên quyết xoá bỏ tàn dư văn hóa cũ, chống văn hoá đồi truỵ, phản động.

Năm là, Bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội bằng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chuyên chính vô sản, xây dựng lực lượng Công an vững mạnh toàn diện. Phát động mạnh mẽ phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Xây dựng quốc phòng toàn dân vững mạnh, chống phá hoại, gây rối và bạo loạn, chủ động và kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống chiến tranh xâm lược. Tăng cường giáo dục pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nếp sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.

Sáu là, Nâng cao năng lực lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức thực hiện và tính chiến đấu của Đảng bộ, phát huy hiệu lực quản lý của chính quyền, bảo đãm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tạo ra phong trào hành động cách mạng tự giác, sâu rộng, liên tục của quần chúng.

4. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV nhất trí thông qua các chỉ tiêu định hướng và định lượng chủ yếu và biện pháp kinh tế xã hội từ nay đến năm 1988 và năm 1990 như sau:

a. Về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Đảm bảo nhịp độ phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Quận hàng năm tăng 20%; giá trị tổng sản lượng năm 1988 đạt 930 triệu đồng và năm 1990 đạt 1 tỷ 346 triệu đồng.

Qui hoạch lại sản xuất của Quận, đầu tư chiều sâu để sản xuất ra nhiều hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng nội địa, tập trung cho các ngành may, may da, điện tử, thủ công mỹ nghệ và chế biến lương thực thực phẩm. Về các mặt hàng xuất khẩu mỗi năm tăng tỷ trọng 2% trong toàn ngành để đến năm 1990 đạt 30%. Thu hút lao động mỗi năm 1.000 người. Tỷ trọng quốc doanh tập thể là 75% trên toàn ngành, giao nộp sản phẩm 80%.

Về xây dựng cơ bản, kiên quyết cắt giảm đầu tư cho những công trình phi sản xuất để tập trung đầu tư cho sản xuất và một số công trình bức thiết cho đời sống nhân dân. Xây mới 100 căn hộ, hoá giá 80% nhà cấp 3, cấp 4.

Giao thông vận tải đảm bảo phục vụ 80% nhu cầu của sản xuất kinh doanh, và đi lại cho nhân dân. Bắt cầu liên phường 21 và 22.

b. Về phân phối lưu thông:

Lập lại trật tự trên mặt trận phân phối lưu thông. Quy hoạch lại thương nghiệp, dịch vụ của Quận trên địa bàn, trước nhất là ngành ăn uống. Phát triển mạng lưới dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống.

Doanh số thương nghiệp năm 1988 là 6 tỷ 760 triệu đồng, năm 1990 là 11 tỷ 420 triệu đồng. Chiếm lĩnh thị trường xã hội từ 60-70%. Các mặt hàng thiết yếu như gạo, thịt, cá, rau, nước chắm, chất đốt, đường, bột ngọt chiếm 90-95%. Tỷ lệ bán lẻ của thương nghiệp HTX là 80% đến 90% trên doanh số. Quản lý chặt chẽ thị trường, giá cả.

Xuất khẩu: Chuyển mạnh sang hướng sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu tại quận. Kim ngạch xuất khẩu năm 1987 đạt 6,5 triệu rúp/đôla, năm 1988 đạt 8,45 triệu rúp/đôla và năm 1990 đạt 14,2 triệu rúp/đôla. 75% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất. Vận động kiều hối, máy móc thiết bị tổng trị giá 500.000 đôla trong năm 1987.

Ngân sách: Phân bổ như sau:

24% cho sản xuất

16% cho xây dựng cơ bản

18,6% sự nghiệp kinh tế

21,5% sự nghiệp văn hoá xã hội

13,3% các nhu cầu khác.

Giảm chi hành chính xuống dưới 4%.

c. Về giải quyết lao động và đời sống:

- Mỗi năm giải quyết 4.000 lao động bằng thu hút vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tuyển sinh, tuyển dụng và các nhu cầu khác. Đào tạo tay nghề 4.000 người/năm tại Trung tâm dạy nghề và tại cơ sở sản xuất.

- Đảm bảo các mặt hàng định lượng cho cán bộ công nhân viên và hộ nhân dân.

- Giải quyết 100 căn hộ cho cán bộ công nhân viên, gia đình chính sách. Chống dột đầu mùa mưa.

- Giải toả 100 căn hộ trên dòng kênh Nhiêu Lộc, nạo vét kênh khu vực phường 21, sửa sang cống rãnh, hẽm, đèn đường, nước sinh hoạt.

Trước năm học cần sửa chữa trường lớp, bàn ghế, chuẩn bị đủ sách vở, giấy bút cho học sinh.

- Đảm bảo đủ thuốc thông thường cho nhân dân.

d. Về cải tạo:

- Tiếp tục củng cố công tác cải tạo trong khu vực sản xuất. Xoá bỏ hình thức bóc lột của chủ đối với thợ trong tổ hợp sản xuất.

Hướng dẫn hoạt động đúng hướng đúng quy định với xí nghiệp, tư nhân cá thể sản xuất theo Quyết định 54, Quyết định 80 và Quyết định 34 của UBND Thành phố.

- Xoá hợp tác kinh doanh đối với những ngành hàng Nhà nước thống nhất quản lý. Củng cố 108 cơ sở hợp tác kinh doanh đi vào hoạt động trong quỹ đạo, chống các hiện tượng tranh mua, tranh bán, tuỳ tiện nâng giá, đầu cơ tích trữ, tư nhân tư lợi danh nghĩa nhà nước làm giàu bất chính.

đ. Về đổi mới cơ chế:

Xác định rõ ràng chức năng các ban ngành phòng và công ty, xí nghiệp.

Xây dựng kế hoạch thực chất từ cơ sở, đảm bảo quyền chủ động cơ sở theo Nghị quyết 306/NQ-TW của Bộ chính trị nhất là quyền tự chủ về tài chính.

e. Về văn hoá xã hội:

Vận động phong trào xây dựng nếp sống văn hoá mới đến 1988 có 100% cơ quan 75% phường đạt văn hoá tiên tiến và năm 1990 có 20/20 phường đạt văn hoá tiên tiến, hình thành một khu vực văn hoá cấp Quận.

Nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo ít nhất 80% học sinh thi đậu hết cấp II. Thực hiện tốt chương trình cải cách sách giáo dục. Chăm lo nuôi dạy trẻ theo phương pháp khoa học. Về Bổ túc văn hoá, đến 1988, cán bộ chủ chốt Quận học hết cấp 3 (có 15% đại học), cán bộ chủ chốt cơ sở 50% hết cấp 3, 50% đang học các lớp cấp 3. Phổ cập văn hoá cấp I cho nhân dân, cấp 2 cho thanh niên.

Hình thành phòng khám và điều trị cấp Quận có 50 giường lưu. Phát động mạnh phong trào 5 dứt điểm, năm 1987 có 15/20 phường đạt 5 dứt điểm, đến năm 1988 có 10.000 người sinh đẻ có kế hoạch. Tỷ lệ tăng dân số là 1,2%.

Vận động phong trào rèn luyện thân thể rộng khắp. Sửa chữa sân số 2 Hồ Xuân Hương, 15/20 phường có phong trào thể dục thể thao tiên tiến.

Thực hiện đúng chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công cách mạng nhất là cán bộ nghỉ hưu. Vào năm 1988 có 20/20 phường đạt tiêu chuẩn tiên tiến.

f. Về an ninh quốc phòng:

Phát động mạnh mẽ phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng Công an vững mạnh toàn diện. Năm 1988 có 80% cơ quan đơn vị phường an toàn trong đó có 3 cụm phường trọng điểm an toàn. Tỷ lệ sai phạm của cán bộ chiến sĩ còn dưới 1% trong toàn ngành.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Hoàn thành nghĩa vụ tuyển quân hàng năm. Vào năm 1988, dân quân tự vệ đạt 9% dân số, năm 1990 đạt từ 10-12% dân số. Năm 1988 đạt 20/20 phường có quân sự địa phương vững mạnh.

g. Về chính quyền đoàn thể:

Phát huy vai trò quyền lực của Hội đồng nhân dân và hiệu lực quản lý kinh tế xã hội của UBND Quận, Phường. Hoàn chỉnh cơ chế phường, đến năm 1988 có 75% khu phố, tổ dân phố tiên tiến, 20% loại khá không còn loại kém. Giảm biên chế hành chính 30%.

Công đoàn thực hiện hết các chức năng và xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh.

Phụ nữ phát huy vai trò trong sản xuất, phân phối lưu thông và phát động các phong trào của giới.

Mặt trận Tổ quốc tập họp giáo dục vận động quần chúng, tham gia vào việc tổ chức đời sống trên địa bàn dân cư.

Đến năm 1988, các đoàn thể, mặt trận tổ quốc có 80% đến 98% quần chúng vào sinh hoạt trong tổ chức, có 60% cơ sở vững mạnh.

h. Về xây dựng Đảng:

Tăng cường công tác chính trị tư tưởng và giáo dục ly 1luận cơ bản cho đảng viên. Số đảng viên kết nạp từ năm 1985 về trước học xong chương trình sơ cấp. Cán bộ chủ chốt Quận qua chương trình trung cấp, 30% Quận uỷ viên học xong Đại học hoặc chương trình cao cấp.

- Quy hoạch cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ kế thừa các chức danh từ cấp quận, đến cơ sở.

- Về phát triển Đảng:

+ Xí nghiệp quốc doanh có từ 1985 về trước thì có Chi bộ hoặc tổ Đảng.

+ Xí nghiệp công tư hợp doanh và các HTX sản xuất xây dựng trước năm 1985 có tổ Đảng hoặc đảng viên.

+ Tổ hợp sản xuất có quần chúng trung kiên

+ HTX tiêu thụ phường có Chi bộ hoặc tổ Đảng.

+ Cửa hàng quốc doanh lớn có 30% cửa hàng trưởng, thủ quỹ, kế toán, thủ kho là đảng viên.

+ Công ty chiếu bóng, hiệu sách, Tờ tin, Đài truyền thanh có tổ Đảng hoặc đảng viên.

+ Các trường đã có đảng viên xây dựng Chi bộ hoặc tổ Đảng.

+ Các trường chưa có đảng viên phải có đảng viên.

+ 50% Hiệu trưởng mẫu giáo và Chủ nhiệm Nhà trẻ là đảng viên.

+ 80% cảnh sát đường phố có 2 năm làm cảnh sát đường phố là đảng viên.

+ 10/20 phường đội có 2 đảng viên

]+ Đồng chí Trưởng hoặc phó phụ trách đoàn thể mặt trận cơ sở là đảng viên. 80% Hội trưởng Hội Lao động hợp tác là đảng viên.

Đối với Đoàn Thanh niên cộng sản, quận uỷ tăng cường lãnh đạo, giáo dục xây dựng Đoàn vững mạnh. Hàng năm Đoàn giới thiệu 700 Đoàn viên ưu tú cho Đảng.

Tổ chức 80% thanh niên vào Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam.

Quận uỷ UBND và Ban Chấp hành các đoàn thể đổi mới phong cách lãnh đạo chỉ đạo và có quy chế làm việc khoa học.

5. Đại hội giao trách nhiệm chi Ban Chấp hành Đảng bộ khoá IV tổ chức chỉ đạo và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và công tác cụ thể nêu trong báo cáo đã được Đại hội bổ sung và thông qua, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông, đời sống, an ninh quốc phòng, và xây dựng lực lượng, thúc đẩy sự phát triển của công cuộc xây dựng và bảo vệ Quận nhà góp phần xây dựng và bảo vệ Thành phố.

6. Đạihội kêu gọi toàn thể đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong toàn quận nhận thức đúng đắn tình hình nhiệm vụ hiện nay, có quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện, phát huy quyền làm chủ tập thể, nâng cao cảnh giác với âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, tăng cường đoàn kết nhất trí chung quanh Ban Chấp hành Đảng bộ Quận 3, quyết tâm khắc phục khó khăn, ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Thành phố và cả nước.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ IV

Thông báo