Thứ Tư, ngày 20 tháng 10 năm 2021

Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 7 lần thứ II (Nhiệm kỳ 2001- 2005) - Chuyển mình bước sang giai đoạn phát triển mới

1- Bối cảnh của Đại hội

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương và Thành ủy về việc tiến hành Đại hội Đảng các cấp, từ đầu năm 2000, Quận ủy Quận 7 đã lãnh đạo, hướng dẫn các cơ sở Đảng tổ chức Đại hội, đồng thời tích cực, khẩn trương chuẩn bị Đại hội Đảng bộ quận lần thứ hai.

Đại hội Đảng bộ Quận 7 lần này tiến hành trong bối cảnh cả nước và thành phố đang đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuẩn bị Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VII và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Về phần mình, trong nhiệm kỳ 3 năm 1998-2000, Đảng bộ và toàn thể nhân dân trong quận đã nỗ lực, không ngừng phấn đấu, vượt nhiều khó khăn, trở ngại để đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ một huyện nông thôn ngoại thành trở thành quận ven nội thành theo quy hoạch chung của TP HCM. Tất nhiên, trong quá trình phát triểnđi lên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại, đòi hỏi được phân tích tại Đại hội, tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục...

Trọng tâm của chương trình nghị sự mà Đại hội Đảng bộ Quận 7 lần thứ II phải giải quyết trên tinh thần Chỉ thị 54/CT-TW của Bộ Chính trị là Đại hội của trí tuệ, dân chủ và đổi mới. Nhiệm vụ của Đại hội là nghiên cứu, thảo luận, đề ra các biện pháp hữu hiệu, thiết thực để vận dụng thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đẩy nhanh tiến độ đô thị hoá của quận ở từng đơn vị, địa phương trong quá trình vận dụng, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội sau này.

Đại hội sẽ lựa chọn, bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ quận khoá II, tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có trí tuệ và năng lực thực tiễn, có khả năng đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống. Đòi hỏi Đại biểu Đại hội phải có thái độ khách quan, công tâm, kiên quyết không để lọt vào Ban Chấp hành những người không đủ phẩm chất theo các tiêu chuẩn cán bộ của NQTW 3 khoá VIII và Quy định số 75 của Bộ Chính trị. Phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc bầu cử và điều hành Đại hội...

Đại hội còn có nhiệm vụ bầu Đoàn Đại biểu của Đảng bộ Quận 7 dự Đại hội Đảng bộ TP HCM lần thứ VII.

2- Diễn biến của Đại hội

Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 7 lần thứ II (nhiệm kỳ 2001-2005) tiến hành trong hai ngày 8 và 9 -11-2000. Dự Đại hội có 150 đại biểu chính thức, thay mặt 1070 đảng viên của Đảng bộ. Đại hội đã thông qua Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ quận khoá I (nhiệm kỳ 1998-2000).

Báo cáo đánh giá: Trong nhiệm kỳ 1998-2000, Đảng bộ và nhân dân Quận 7 đã nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả khả quan trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, cũng có một số thiếu sót tồn tại:

Về kinh tế: Các thành phần kinh tế do Quận quản lý chỉ đạt tăng trưởng hàng năm là 8,56%, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu 20% đã đề ra. Các DN sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 11,92% so với chỉ tiêu 20%, DN thương mại - dịch vụ chỉ tăng 4,37% so với chỉ tiêu 25%...Cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn còn thấp kém, nhất là giao thông và cấp thoát nước. Công tác quy hoạch chưa đáp ứng kịp thời; thu hút đầu tư chậm..

Về văn hoá - xã hội: Giáo dục còn tồn tại (trẻ bỏ học, học muộn, tỷ lệ lưu ban còn cao...); đào tạo nghề chưa đạt chỉ tiêu; một số phong trào văn hoá - văn nghệ ở một số nơi còn mang tính hình thức; hoạt động thể dục thể thao còn mang tính tự phát; hiệu quả thực hiện chương trình giảm nghèo và quỹ quốc gia giải quyết việc làm còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu số hộ vượt nghèo ra khỏi chương trình là 150 hộ/năm; công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân cũng còn hạn chế, công suất giường bệnh chỉ đạt bình quân 50%; công tác vệ sinh môi trường còn nhiều lúng túng...

Về an ninh -quốc phòng và bảo vệ pháp luật: Từng lúc, từng nơi, từng bộ phận ý thức cảnh giác cách mạng chưa được cao; tệ nạn xã hội giảm không đáng kể; xây dựng chuyển hoá địa bàn chậm; công tác hậu phương quân đội chưa được quan tâm đúng mức; công tác giáo dục, phổ biến pháp luật cho nhân dân còn hạn chế...

Về xây dựng, củng cố hệ thống chính trị

+ Công tác xây dựng Đảng:

* Trong lĩnh vực chính trị tư tưởng: Tính tiên phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn yếu; tính chiến đấu trong một số đảng viên chưa cao; tự phê bình và phê bình chưa thẳng thắn, ngại đụng chạm, còn tư tưởng “dĩ hoà vi quý”, dễ người, dễ ta”, thiếu dũng khí đấu tranh chống tiêu cực; ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận đảng viên còn kém, việc tự giác học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng, nâng cao trình độ lý luận chính trị ở một số đảng viên chưa cao.

* Trong công tác tổ chức cán bộ: Ở một vài đơn vị công tác xây dựng Đảng chưa được chú trọng đúng mức, từng lúc từng nơi chưa làm tốt nguyên tắc tập trung dân chủ. Bố trí sử dụng cán bộ có khi chưa thật hợp lý, cán bộ, đảng viên trong từng lĩnh vực công tác cũng có những hạn chế, thiếu chủ động, sáng tạo; công tác quản lý cán bộ đảng viên có nơi chưa gắn với công tác xây dựng, củng cố tổ chức; công tác phát triển Đảng chưa thật đồng đều, tỷ lệ công nhân trực tiếp sản xuất được phát triển Đảng còn ít.

* Công tác kiểm tra Đảng: Trong nhận thức của một số cán bộ đảng viên chưa sâu sắc; các biện pháp phòng chống ngăn ngừa vi phạm kỷ luật chưa đồng bộ nên hiệu quả chưa cao.Việc kiểm tra thực hiện Nghị quyết của Đảng ở một số đơn vị cơ sở chưa được tiến hành thường xuyên.

+ Công tác xây dựng, củng cố chính quyền: Hoạt động của một số đại biểu HĐND chưa đều, sự phối hợp giữa các ban ngành trong thực hiện nhiệm vụ chưa chặt chẽ và nhịp nhàng. Công tác quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực thuế, nhà đất, quản lý đô thị, văn hoá, xã hội... từng lúc, từng nơi còn bất cập, nhiều sơ hở, thiếu đồng bộ. Hiệu quả của cải cách hành chánh, của đấu tranh chống tiêu cực chưa cao.

Một số cấp ủy và đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của Công tác vận động quần chúng; chưa quan tâm lãnh đạo xây dựng các đoàn thể, một số đoàn thể chính trị còn nặng tính hành chính trong hoạt động, chưa đeo bám cơ sở, chưa thể hiện rõ vai trò đại diện cho giới, cho đoàn viên, hội viên đoàn thể mình, chưa có sức hấp dẫn quần chúng tham gia nên phong trào chưa sâu rộng.

Tóm lại, trong nhiệm kỳ I (1998-2000), Ban Chấp hành đã lãnh đạo Đảng bộ quận, chính quyền địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và đạt một số kết quả khả quan trên các lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội, đầu tư một bước cơ sở hạ tầng kỹ thuật -xã hội. Tuy nhiên so với yêu cầu xây dựng quận 7 từ vùng nông nghiệp ngoại thành trở thành một quận đô thị hiện đại, văn minh, thực hiện nhiệm vụ chiến lược của TP HCM là phát triển đô thị về phía nam thì với hệ thống các cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu. Trên địa bàn còn 60% lao động nông nghiệp, trình độ dân trí còn thấp, tay nghề kém, trong khi đó các cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo nghề, hướng nghiệp còn thiếu gây ra nhiều khó khăn trong công tác giải quyết việc làm. Các dự án hạ tầng kỹ thuật lớn của thành phố trên địa bàn quận thường được triển khai chậm, thời gian kéo dài. Số lượng các dự án đầu tư khác ít, gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện vì giá đất cao nhưng kinh phí đầu tư lại nhiều hơn những quận khác. Việc đền bù giải toả khó khăn, trong khi quận chưa có nguồn nhà, đất ở sẵn có để thực hiện tạm cư, tái bố trí. Đó là một thực trạng đầy thách thức.

Sau khi nêu rõ những thành tựu và ưu, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Quận 7 nhiệm kỳ 1998-2000, Báo cáo Chính trị rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu:

a) Xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh để Đảng bộ xứng đáng là hạt nhân chính trị, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của quận. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, xây dựng nội bộ luôn đoàn kết thống nhất, phát huy được sức mạnh tập thể, giúp nhau cùng tiến bộ.

b) Xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh, cán bộ lãnh đạo chủ chốt có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để đảm bảo khả năng thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng ủy cấp trên và của cấp ủy cùng cấp.

c) Chú trọng công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm. Nâng cao chất lượng tổng kết và biết áp dụng kinh nghiệm nhân rộng những mô hình tốt, cá nhân tiêu biểu.

d) Tôn trọng và tin tưởng nhân dân, dựa vào dân để phát huy nội lực nhằm phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị. Luôn quan tâm đến lợi ích thiết thực của nhân dân. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, lắng nghe và giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng, hợp lý của cán bộ đảng viên và nhân dân, qua đó tạo sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong nhân dân.

đ) Trong quá trình lãnh đạo, tích cực tranh thủ sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND TP, sự giúp đỡ của các ban ngành thành phố , sự đồng tình ủng hộ của các đơn vị trên địa bàn, để phối hợp giải quyết nhanh chóng và có hiệu quả những vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân và yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của quận.

5 năm đầu của thế kỷ XXI (2001-2005) là thời gian có ý nghĩa vô cùng quan trọng: là giai đoạn quận 7 phải chuyển mình, bước vào thế kỷ mới trong bối cảnh thành phố đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, cả nước quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và từng bước hoàn thiện CNXH.

Trên địa bàn Quận 7, sự phát triển của khu chế xuất Tân Thuận và công trình đường Bình Thuận, đường Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh, dự án đô thị Nam Sài Gòn... sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động dịch vụ - thương mại - công nghiệp phát triển, tạo cơ hội thu hút đầu tư, lao động, giài quyết việc làm. Bên cạnh đó, với chủ trương của thành phố là dãn dân từ các quận nội thành cũ ra các quận mới, Quận 7 sẽ tiếp tục tăng dân số cơ học lớn, nhu cầu về nhà ở tăng, ngành xây dựng và kinh doanh vật liệu xây dựng sẽ phát triển mạnh... Đó là những thuận lợi hết sức căn bản . Tuy nhiên, quận sẽ phải tiếp tục đối đầu với một số khó khăn tồn tại cũ và mới phát sinh: hạ tầng đô thị yếu kém, phát triển không đồng bộ với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ văn hoá, tay nghề của lao động thấp. Đô thị phát triển, dân nhập cư tăng sẽ phát sinh nhiều phức tạp trong quản lý đo thị và trật tự xã hội.

Căn cứ vào những thuận lợi, khó khăn thực tế của quận, Báo cáo Chính trị đã chỉ ra Mục tiêu - nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu trong 5 năm (2001-2005) của quận như sau:

Về mục tiêu tổng quát: Giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội; tăng cường đoàn kết, phát huy dân chủ, huy động mọi nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho đô thị mới, thúc đẩy kinh tế - văn hoá - xã hội phát triển, nâng cao dân trí, cải thiện đáng kể mức sống người dân ; kiện toàn hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý nhà nước trên địa bàn quận.

Để đạt mục tiêu nói trên, Đảng bộ phải lãnh đạo nhân dân toàn quận tập trung thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

1- Trên lĩnh vực kinh tế

Đảng bộ quận định hướng quy hoạch phát triển kinh tế trên địa bàn theo hướng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ - thương mại, phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân từ 13,6% /năm trở lên. Trong đó tiếp tục xác định cơ cấu kinh tế do quận quản lý là thương mại - dịch vụ - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhưng có sự thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng. Tích cực tác động và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 11%. Tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn trên lĩnh vực thương mại - dịch vụ (vật tư nông nghiệp, xăng dầu, vật liệu xây dựng, dịch vụ cảng....) phấn đấu đạt mức tăng trưởng 11,57%/năm, trong đó các DN do quận quản lý tăng 9,97%/năm, các DN Trung ương và thành phố tăng 15%/năm. Phấn đấu nâng kim ngạch xuất khẩu lên 10 triệu USD vào năm 2005. Phấn đấu các doanh nghiệp công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp do quận quản lý có giá trị sản xuất tăng bình quân 15%/năm.

Về nông nghiệp: Tập trung chuyển đổi cơ cấu thích hợp và dự kiến không còn đất nông nghiệp vào năm 2005...

Tiếp tục củng cố và tạo điều kiện thuận lợi để nâng hiệu quả hoạt động của các DNNN, làm cho các DNNN giữ vai trò trụ cột trong nền kinh tế quốc dân, thông qua việc cổ phần hoá, mở rộng sản xuất...Tạo điều kiện để các DN thuộc thành phần kinh tế tư nhân mở rộng sản xuất kinh doanh, thay đổi công nghệ...

Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội bằng nguồn vốn ngân sách, trong đó trọng tâm đầu tư cho công trình giao thông, cấp nước 245,1 tỷ đồng (50,92%), giáo dục 87 tỷ đồng (18,07%), y tế - văn hoá - TDTT 106,2 tỷ đồng (22,06%), xây dựng trụ sở làm việc 43 tỷ đồng (8,93%).

Tiếp tục đẩy mạnh chương trình xây dựng nhà ở theo quy hoạïch với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 15%...

Đẩy nhanh việc hoàn chỉnh và công bố quy hoạch tổng thể quận 7. Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ tư vấn đầu tư nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án...Thực hiện cơ chế đổi đất lấy hạ tầng.

Phấn đấu thu thuế đạt chỉ tiêu hàng năm được giao, đảm bảo yêu cầu chi tiêu ngân sách thường xuyên.

2- Về các vấn đề văn hoá - xã hội

Giáo dục: Phấn đấu đến năm 2005 đạt các chỉ tiêu về giáo dục như sau:

- Nâng mặt bằng dân trí lên 8,5 - 9.

- Năm 2002 đạt chuẩn quốc gia phổ cập THCS toàn quận.

- 95% trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo.

- 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1.

- 100 % học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6.

- Hiệu suất đào tạo: Tiểu học đạt 95%; THCS đạt 85%; PTTH đạt 85%.

Chuẩn hoá 100% đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên các cấp. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; xây dựng tốt môi trường sư phạm, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường.

Thành lập trung tâm dạy nghề quận, phấn đấu đào tạo nghề cho 7.200 lao động/năm.

Củng cố, phát triển hệ thống chính trị trong ngành giáo dục - đào tạo, nâng chi bộ giáo dục - đào tạo lên Đảng bộ, phấn đấu đến 2004 có tổ chức Đảng trong các trường phổ thông.

Về tăng trưởng dân số (dự báo đến năm 2005 là 200.000 người) phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,2%; hạ tỷ lệ sinh còn 1,4%; tốc độ tăng cơ học là 8,8%.

Về lao động và giải quyết việc làm: Phấn đấu bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 10.000 - 12.000 lao động (lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chiếm 20-25%), giảm tỷ lệ lao động trong độ tuổi chưa có việc làm dưới 9% vào cuối năm 2000.

Đẩy mạnh xã hội hoá công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng tỷ lệ bác sĩ lên 7/10.000 dân vào cuối nhiệm kỳ. Bảo đảm trên 95% trẻ em dưới 3 tuổi tiêm chủng đủ 6 loại vac-xin và viêm gan siêu vi B, không có trẻ em mắc bệnh bại liệt và uốn ván sơ sinh.

Về phòng chống tệ nạn xã hội: Phấn đấu đến cuối năm 2000 cơ bản xoá bỏ tệ nạn bia ôm trá hình, mại dâm, ngăn chặn có hiệu quả tệ nạn ma tuý, không để phát sinh thêm số người nghiện...

Phấn đấu nâng dần đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân: mỗi năm xây dựng 5 - 6 khu phố văn hoá đạt chuẩn, 80% số hộ gia đình đạt gia đình văn hoá mới

Đẩy mạnh công tác xã hội hoá thể dục thể thao, vận động mọi người dân tự giác tham gia phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ.

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em và Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Đẩy mạnh phong trào “người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan”, xây dựng thêm các câu lạc bộ ông - bà - cháu.

3- Về an ninh quốc phòng và các ngành bảo vệ pháp luật

Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy đối với nhiệm vụ an ninh quốc phòng, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên... Tiếp tục thực hiện các chuyên đề của Quận ủy về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng tổ dân phố tự quản, khu phố an toàn, tuyến liên hoàn an toàn.

Tích cực đấu tranh phòng chống các loại tội phạm có tổ chức, triệt phá có hiệu quả các băng nhóm tội phạm hình sự, kinh tế, tệ nạn xã hội, làm giảm đến mức thấp nhất các loại trọng án (bình quân mỗi năm giảm 20% - 25% số vụ phạm tội và tệ nạn xã hội trênđịa bàn), tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về trật tự an toàn xã hội và trật tự giao thông đô thị. Xây dựng lực lượng công an trong sạch vững mạnh, củng cố niềm tin trong nhân dân.

Đẩy mạnh giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân, chú trọng xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân..., thực hiện vượt chỉ tiêu tuyển quân hàng năm; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng dân quân, xây dựng mở rộng tự vệ cơ quan, xí nghiệp; thực hiện tốt hơn chính sách hậu phương quân đội.

Đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền pháp luật, kiên quyết đấu tranh lập lại trật tự kỷ cương, chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật...Chỉ đạo kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, lãng phí, gây phiền hà cho nhân dân, phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ để góp phấn xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Phối hợp với các ngành chức năng của thành phố củng cố, kiện toàn tổ chức các cơ quan bảo vệ pháp luật của quận. Quan tâm bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, hết lòng phục vụ nhân dân.

Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với các ngành bảo vệ pháp luật.

4- Về xây dựng hệ thống chính trị

a. Công tác xây dựng Đảng: Phấn đấu xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có sức chiến đấu cao, năng lực lãnh đạo đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ xây dựng đội ngũ đảng viên vững vàng có bản chất giai cấp công nhân, phát huy tính tiên phong gương mẫu, chủ động sáng tạo trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đảng và lãnh đạo phong trào quần chúng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Có đội ngũ cán bộ được trẻ hoá, trung thành với lý tưởng Đảng, có kiến thức, năng lực, nhạay bén, năng động trong xử lý công việc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Trong giáo dục chính trị tư tưởng: Phải có tính chủ động tiến công, ngăn ngừa những nhận thức lệch lạc; phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng phải hấp dẫn, phù hợp đối tượng, đổi mới...; đề cao giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng của Đảng bộ của thành phố và của cả nước, xây dựng lòng tự tôn dân tộc, tích cực chống cái xấu, xây cái tốt.

Trong công tác tổ chức cán bộ:Xây dựng, phát triển nâng cao chất lượng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, xứng đáng vai trò hạt nhân chính trị; lãnh đạo chính quyền và vận động, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của đơn vị, địa phương. Phấn đấu đến cuối năm 2005 có 65% - 70% cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, còn lại là khá, không có yếu kém với trên 98% đảng viên đủ tư cách, trên 60% đảng viên phấn đấu tốt. Xây dựng từ 2 - 3 cơ sở Đảng trong các DN ngoài quốc doanh.

Xây dựng đề án và triển khai thực hiện có hiệu quả NQTW 7 về sắp xếp, củng cố tổ chức hệ thống chính trị.

Làm tốt công tác phát triển đảng viên, chú trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ tỷ lệ phát triển đạt 12% - 15% trên tổng số đảng viên hiện có.

Tiếp tục thực hiện chiến lược cán bộ theo tinh thần NQTW 3 (khoá VIII), căn cứ quy hoạch cán bộ của quận, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp thực tế. Quan tâm thực hiện chính sách đối với cán bộ nữ.

Công tác kiểm tra: Chủ động lập kế hoạch kiểm tra và tổ chức kiểm tra để phòng ngừa, hạn chế sự vi phạm kỷ luật của đảng viên và tổ chức Đảng; củng cố hệ thống kiểm tra Đảng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

b. Xây dựng chính quyền: Nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND các cấp; tổ chức tốt các kỳ họp, cụ thể hoá các Nghị quyết của Quận ủy thành Nghị quyết của HĐND bảo đảm tính khả thi; nâng cao vai trò giám sát, thẩm định các hoạt động của nhà nước, giải quyết có hiệu quả các kiến nghị của cử tri. Kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước từ quận đến phường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng đã đề ra.

Thực hiện tốt hơn quy chế dân chủ cơ sở, gắn với thực hiện cải cách thủ tục hành chính, thực hiện quy chế “một cửa, một dấu”; quan tâm đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước.

c. Công tác vận động quần chúng

Công tác vận động quần chúng của Đảng: Cấp ủy Đảng phải có kế hoạch, chương trình hành động cụ thể về công tác vận động quần chúng, thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư nguyện vọng của nhân dân để kịp thời đề ra các biện pháp, chủ trương đúng đắn... Thực hiện nghiêm các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác vận động quần chúng, duy trì chế độ làm việc định kỳ với chính quyền, mặt trận, các đoàn thể để kịp thời lãnh đạo giải quyết các vấn đề bức xúc của quần chúng.

Củng cố, xây dựng Đoàn TNCS HCM thực sự vững mạnh xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng bộ. Phấn đấu đến hết năm 2002, 100% Bí thư Đoàn phường là đảng viên.

Công tác vận động quần chúng của chính quyền: UBND các cấp, các ngành phải lấy việc phục vụ lợi ích nhân dân, xây dựng địa phương giàu mạnh làm mục tiêu trọng tâm. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở theo Chỉ thị 30/CT-TW, Nghị định 29/CP, 17/CP và 07/CP theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” gắn với xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn dân cư.

Công tác vận động quần chúng của Mặt trận, các đoàn thể và các Công tác vận động quần chúng của Mặt trận, các đoàn thể và các hợp quần chúng, củng cố hệ thống chân rết của các đoàn thể ở các phường, khu phố, tổ dân phố, các doanh nghiệp, cơ quan, trường học. Phấn đấu đến năm 2005 có 80% cơ sở Mặt trận, các đoàn thể vững mạnh, 20% khá; đảm bảo đạt 20% - 30% lực lượng nòng cốt trên tổng số đoàn viên, hội viên. Đến 2005 xây dựng 80% công đoàn cơ sở ở những đơn vị ngoài quốc doanh có đủ đều kiện, 2 - 3 đơn vị ngoài quốc doanh có tổ chức Đoàn TNCS.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 của Đảng bộ, Báo cáo Chính trị đưa ra một số giải pháp lớn:

1- Xác định vị trí của Quận 7 trong khu vực đang và sẽ phát triển mạnh. Gắn kết sự phát triển của quận với sự phát triển của khu chế xuất và các dự án lớn khác trên địa bàn, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương và thành phố.

2- Tranh thủ ngân sách thành phố để xây dựng quy hoạch chi tiết trên cơ sở quy hoạch tổng thể đã được duyệt, phổ biến công khai, rộng rãi quy hoạch trên địa bàn quận để mời gọi đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển. Tranh thủ phát huy mọi nguồn vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, tập trung cải cách hành chánh, giảm bớt phiền hà cho dân, coi đó là biện pháp trọng yếu để thu hút đầu tư phát triển kinh tế.

3- Tiếp tục củng cố, kiện toàn nâng cao sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của các tổ chức Đảng, năng lực quản lý điều hành của chính quyền, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng gắn với chống quan liêu, tham nhũng, thực hiện cần kiệm để xây dựng quận.

4- Đẩy mạnh việc vận động cán bộ đảng viên và nhân dân hưởng ứng thiết thực phong trào thi đua yêu nước.

5- Kiện toàn bộ máy theo hướng tinh gọn, nâng cao phẩm chất và năng lực cán bộ.

6- Sau Đại hội, giao cho Ban Chấp hành Đảng bộ khoá II xây dựng Chương trình kế hoạch lãnh đạo thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng bộ.

Thông báo